Tóm tắt:Bài viết nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội đối với lao động di cư từ thành thị về nông thôn tại Trung Quốc để đánh giá hiệu quả chính sách. Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu, phản ứng khá nhanh với xu thế xã hội nhưng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế về sự khác biệt giữa các địa phương, tính liên kết hạn chế giữa các chương trình và những rào cản hành chính. Từ đó, bài viết rút ra một số tham vấn có giá trị tham khảo cho Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện pháp luật, tăng cường tính liên kết giữa các chính sách và bảo đảm quyền tiếp cận an sinh xã hội công bằng cho lao động di cư.Từ khóa: pháp luật an sinh xã hội, tham vấn, Trung Quốc, lao động di cư.
1. Đặt vấn đề
Di cư lao động là xu hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sau đại dịch Covid-19, hoạt động di cư ngược từ thành thị về nông thôn đã đặt ra nhiều thách thức cho chính sách. Trung Quốc đã xây dựng hệ thống an sinh xã hội (ASXH) khá toàn diện, gồm 5 loại bảo hiểm và Quỹ dự phòng nhà ở nhưng vẫn tồn tại hạn chế về tính phân mảnh và khó khăn trong chuyển đổi quyền lợi giữa các địa phương. Theo đó, bài viết phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc để rút ra bài học nhằm hoàn thiện chính sách ASXH cho lao động di cư tại Việt Nam.
2. Pháp luật Trung Quốc về an sinh xã hội
Hiện nay, Trung Quốc chưa có quy định riêng đối với nhóm lao động di cư từ thành thị về nông thôn mà áp dụng theo các quy định chung về ASXH dành cho người lao động, gồm 5 loại hình bảo hiểm cơ bản (hưu trí, y tế, tai nạn lao động, thất nghiệp và thai sản) cùng với Quỹ dự phòng nhà ở.
Hệ thống bảo hiểm y tế (BHYT) cơ bản của Trung Quốc gồm 3 nhóm: (i) BHYT cơ bản cho người lao động (EBMI); (ii) BHYT cơ bản cho người dân (RBMI); và (iii) Hệ thống chăm sóc y tế hợp tác nông thôn mới (NRCMS). Theo Điều 23 Luật BHXH Trung Quốc năm 2010, mọi lao động phải tham gia BHYT cơ bản do người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng, còn lao động tự do, bán thời gian hoặc linh hoạt có thể tự tham gia và tự đóng. Quy định này đã mở rộng độ bao phủ và phân định rõ trách nhiệm đóng góp theo từng nhóm lao động. Phạm vi chi trả của BHYT rộng, bao gồm chăm sóc ban đầu, điều trị chuyên khoa, nội trú, thuốc kê đơn, chăm sóc sức khỏe tâm thần, cấp cứu, vật lý trị liệu và y học cổ truyền Trung Quốc.[1] Tuy nhiên, mức thụ hưởng và chất lượng dịch vụ vẫn phụ thuộc nhiều vào hộ khẩu và điều kiện kinh tế địa phương, khiến cư dân thành thị được bảo đảm tốt hơn còn người dân nông thôn chỉ tiếp cận phạm vi hạn chế hơn.
Về hưu trí, Trung Quốc hiện phân thành bảo hiểm hưu trí thành thị và bảo hiểm hưu trí nông thôn. Theo Điều 10 Luật BHXH năm 2010, người lao động phải tham gia bảo hiểm hưu trí cơ bản, còn những người làm việc linh hoạt có thể lựa chọn tham gia và tự đóng góp. Quy định này cho thấy định hướng mở rộng diện bao phủ BHXH và bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Tuy nhiên, cơ chế tham gia tự nguyện cũng đặt ra hạn chế nhất định, bởi với nhóm lao động có thu nhập thấp hoặc việc làm không ổn định, khả năng tham gia thường không cao.
Điều 15 xác định mức hưởng bảo hiểm hưu trí bởi 4 yếu tố và phụ thuộc vào sự linh hoạt theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.[2] Tuy nhiên, việc gắn chặt mức lương hưu với các yếu tố như tuổi thọ hay lương bình quân địa phương cũng đặt ra thách thức về công bằng giữa các vùng miền và nhóm thu nhập, đặc biệt trong bối cảnh chênh lệch phát triển giữa thành thị và nông thôn còn lớn. Gần đây, Trung Quốc đã điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu, cụ thể lao động nam và nữ có tuổi nghỉ hưu ban đầu là 55 sẽ tăng thêm 4 tháng mỗi năm, đến 63 tuổi với nam và 58 tuổi với nữ. Riêng lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 50 sẽ tăng 2 tháng mỗi năm, đến 55 tuổi. Ngoài ra, người lao động có thể nghỉ hưu sớm hoặc muộn tối đa 3 năm so với tuổi nghỉ hưu theo quy định mới.[3] Những thay đổi kể trên đã giảm áp lực quỹ hưu trí và tăng tính bền vững hệ thống.
Đối với bảo hiểm thất nghiệp, theo Điều 45 Luật BHXH năm 2010, điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp là: (i) đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ít nhất 1 năm; (ii) việc mất việc không do lỗi cố ý của bản thân; và (iii) đã đăng ký thất nghiệp, đồng thời có nhu cầu tìm việc. Theo Điều 46, nếu người lao động tái thất nghiệp sau khi đã có việc làm mới, thời gian đóng bảo hiểm được tính lại và thời gian hưởng trợ cấp được cộng dồn với phần còn lại trước đó, nhưng tối đa không quá 24 tháng. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động vẫn được tham gia BHYT cơ bản, nhưng mức trợ cấp chỉ tính theo mức cố định do địa phương quy định. Ở một số tỉnh, mức phúc lợi có sự phân tầng, gắn liền với thời gian đóng góp bảo hiểm thất nghiệp[4]. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp không chỉ chi trả trợ cấp mà còn hỗ trợ đào tạo nghề, kết nối việc làm và tái hòa nhập thị trường lao động. Trợ cấp sẽ chấm dứt khi người lao động có việc làm, nhập ngũ, ra nước ngoài định cư, đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc từ chối việc làm phù hợp.
Bảo hiểm tai nạn lao động cũng được bắt buộc nhưng đặc biệt ở chỗ, tỷ lệ đóng góp được xác định dựa trên ngành nghề và mức độ rủi ro (Điều 34); dựa trên chi phí chi trả của quỹ và tần suất tai nạn, Nhà nước quy định khung tỷ lệ cho từng lĩnh vực, còn cơ quan BHXH xác định mức đóng cụ thể theo tình hình an toàn của từng doanh nghiệp.
Bảo hiểm thai sản ở Trung Quốc không bắt buộc người lao động phải trực tiếp đóng góp, mà toàn bộ do người sử dụng lao động đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.[5] Điều 56 của luật này quy định điều kiện để người lao động được hưởng chế độ thai sản: (i) Một lao động nữ sinh con đang nghỉ thai sản; (ii) Nghỉ phép hoạt động kế hoạch hóa gia đình; hoặc (iii) Bất kỳ trường hợp nào khác theo quy định của pháp luật. Trợ cấp thai sản được tính và chi trả theo mức lương bình quân tháng của năm trước liền kề của người lao động tại đơn vị nơi người hưởng chế độ làm việc. Cơ chế này vừa bảo đảm quyền lợi thai sản cho lao động nữ, vừa giảm gánh nặng tài chính trực tiếp cho họ, góp phần duy trì bình đẳng giới trong tiếp cận ASXH.
Quỹ dự phòng nhà ở là cơ chế đặc thù của Trung Quốc, vận hành theo nguyên tắc cá nhân hóa. Theo Điều 3 Quy định hành chính về Quỹ dự phòng nhà ở năm 2019, cả phần do người lao động đóng và phần do đơn vị sử dụng lao động đóng cho họ đều thuộc sở hữu của người lao động. Tỷ lệ đóng, đặt cọc quỹ dự phòng nhà ở của công nhân, nhân viên và một đơn vị không thấp hơn 5% mức bình quân tiền lương tháng của năm gần nhất; thành phố có hoàn cảnh tốt được nâng tỷ lệ đóng, ký quỹ phù hợp. Hiện nay, tỷ lệ này ở một số thành phố lớn như Bắc Kinh là 5,280%, Thượng Hải là 6,280%, Hàng Châu là 5,800%.[6] Quỹ dự phòng nhà ở chỉ được sử dụng để mua, xây dựng, sửa chữa, cải tạo nhà ở phục vụ sinh hoạt, không được sử dụng sai mục đích. Ngoài ra, người lao động, nhân viên được rút số tiền còn lại trong tài khoản quỹ dự phòng nhà ở của mình nếu thuộc 1 trong 6 trường hợp tại điều 55 Luật BHXH năm 2010. Đây là một mô hình độc đáo trong hệ thống ASXH Trung Quốc, vừa mang tính phúc lợi, vừa điều tiết kinh tế.
3. Thực trạng áp dụng pháp luật Trung Quốc về an sinh xã hội cho lao động di cư
- Chính phủ Trung Quốc đã mở rộng hệ thống ASXH, tạo điều kiện cho lao động di cư duy trì quyền lợi khi chuyển đổi nơi cư trú.
Theo Điều 32 Luật BHXH năm 2010, người lao động được tiếp tục tham gia BHYT cơ bản khi di chuyển giữa các địa phương, với thời gian đóng được cộng dồn, bảo đảm việc tiếp cận dịch vụ y tế. Đối với bảo hiểm hưu trí, Điều 19 quy định cơ chế bảo lưu và cộng dồn thời gian đóng dù làm việc ở nhiều khu vực khác nhau, giúp tính lương hưu tổng hợp, tránh phân mảnh. Trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp, Luật Việc làm năm 2007 và Điều 45 Luật BHXH năm 2010 cho phép lao động di cư có hợp đồng hợp pháp và tham gia đầy đủ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi mất việc hoặc hồi hương. Những chính sách này không chỉ củng cố tính bao trùm của hệ thống ASXH mà còn thể hiện cam kết của Trung Quốc trong việc bảo đảm bình đẳng cho mọi công dân, bất kể nơi cư trú.
- Chương trình NRCMS cải thiện khả năng tiếp cận y tế cho người dân nông thôn.
Theo Điều 24 Luật BHXH năm 2010 thì NRCMS đã được thừa nhận chính thức trong hệ thống pháp luật “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống hợp tác y tế nông thôn mới”. NRCMS đã đảm bảo quản lý, giám sát thống nhất trên toàn quốc, giúp mạng lưới BHYT rộng khắp khu vực nông thôn, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh. Với lao động di cư, quyền lợi y tế khi họ trở về quê hương được bảo đảm, hạn chế rủi ro sức khỏe do di chuyển và việc làm không ổn định.
- Cải cách hệ thống hộ khẩu giúp giảm bớt sự phân biệt giữa lao động di cư và cư dân bản địa.
Kế hoạch cải cách hộ khẩu năm 2014 và Chiến lược phục hưng nông thôn năm 2017 hướng tới tháo gỡ rào cản thể chế, thu hẹp bất bình đẳng trong thụ hưởng an sinh xã hội giữa thành thị và nông thôn. Pháp luật cho phép lao động di cư tiếp tục duy trì, chuyển tiếp và cộng dồn thời gian tham gia BHXH khi di chuyển giữa các địa phương, kể cả sau thời gian dài làm việc ở đô thị. Cơ quan BHXH nơi đi có trách nhiệm cấp chứng từ đóng góp để chuyển sang nơi mới, giúp người lao động không bị gián đoạn quyền lợi khi hồi hương. Cơ chế này không chỉ đổi mới quản lý cư trú mà còn thể hiện sự chuyển biến từ tư duy phân biệt theo hộ khẩu sang bảo đảm bình đẳng quyền lợi, góp phần xóa bỏ tình trạng “công dân hạng hai” và hỗ trợ lao động di cư tái hòa nhập bền vững ở nông thôn.
Một số thách thức trong chính sách ASXH Trung Quốc:
- Hiện chưa có chính sách riêng cho lao động di cư từ thành thị về nông thôn.
Trung Quốc hiện chưa có chính sách chuyên biệt cho lao động di cư, khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập hệ thống ASXH. Nhiều chế độ như BHXH, Quỹ dự phòng nhà ở vẫn gắn với hộ khẩu địa phương, làm giảm khả năng thụ hưởng đầy đủ quyền lợi. Việc chuyển đổi quyền lợi giữa các địa phương gặp nhiều khó khăn do rào cản hộ khẩu và khác biệt trong cách quản lý, khiến quá trình cộng dồn thời gian đóng và thụ hưởng của lao động di cư chưa thuận lợi. Tại Điều 95 Luật BHXH quy định:“Cư dân nông thôn di cư làm việc tại đô thị thì thực hiện tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này”. Điều này chỉ điều chỉnh di cư từ nông thôn ra thành thị, chưa đề cập đến chiều ngược lại, khiến lao động di cư về nông thôn thiếu bảo vệ và dễ rơi vào tình trạng việc làm bấp bênh, thu nhập không ổn định. Hệ thống ASXH của Trung Quốc vẫn chưa bao quát, phản ánh sự bất bình đẳng trong tiếp cận phúc lợi giữa các khu vực.
- Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn vẫn lớn.
Hệ thống hộ khẩu đã tạo ra sự phân biệt rõ rệt trong việc tiếp cận quyền lợi xã hội, khiến lao động di cư gặp khó khăn trong tham gia BHXH, y tế và trợ cấp. Luật BHXH năm 2010 Trung Quốc và các quy định liên quan vẫn thiếu công bằng khi cư dân nông thôn thu nhập thấp ít được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, trong khi nhóm thu nhập cao ở đô thị lại hưởng lợi nhiều hơn. Hệ thống hưu trí chịu áp lực tài chính dù tỷ lệ đóng góp đã giảm từ 20% xuống 16% sau 6 lần cắt giảm vẫn cao hơn khoảng 1/3 so với mức trung bình của các nước OECD[7]. Đối với bảo hiểm thất nghiệp, Quy định về Bảo hiểm Thất nghiệp năm 1999 và Luật BHXH năm 2010 quy định người lao động và người sử dụng lao động phải đóng góp tối thiểu 1 năm (Điều 14)[8], khiến việc hưởng trợ cấp khó khăn do di chuyển giữa các địa phương và mức trợ cấp thường cố định, không phù hợp thu nhập thực tế. Tương tự, quỹ dự phòng nhà ở chủ yếu có lợi cho người thu nhập cao, còn lao động di cư thu nhập thấp khó tích lũy và tiếp cận nhà ở đô thị.
4. Một số tham vấn cho Việt Nam
- Hoàn thiện BHXH để đảm bảo tính di động khi lao động di chuyển.
Để đảm bảo quyền lợi BHXH, BHYT liên tục và tính di động cho lao động di cư giữa thành thị và nông thôn, cần tiếp tục cải cách hệ thống BHXH và BHYT theo hướng tự động bảo lưu thời gian tham gia, tích hợp với mã định danh cá nhân, cho phép tham gia BHXH tự nguyện với mức đóng linh hoạt. Luật BHYT cũng nên bổ sung quy định giảm mức đóng trong 2-3 năm đầu đối với lao động hồi hương, đơn giản hóa thủ tục và liên thông dữ liệu với hệ thống quản lý dân cư. Cần xây dựng cơ chế liên thông BHXH, BHYT giữa các tỉnh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ với sự tham khảo của mô hình quỹ hưu trí cá nhân của Singapore (CPF)[9]. Điều này giúp lao động tránh bị gián đoạn quá trình tham gia BHXH khi chuyển đổi việc làm hoặc nơi cư trú, đảm bảo tính nhất quán trong hệ thống bảo hiểm. Ngoài ra, cần cho phép người lao động tạm ngừng đóng BHXH nhưng vẫn duy trì quyền lợi BHYT khi chưa có việc làm ổn định để những lao động di cư về nông thôn do mất việc hoặc tạm thời chưa tìm được công việc mới.
- Xây dựng các cơ chế hỗ trợ về nhà ở và tài chính.
Cần sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, bổ sung đối tượng lao động di cư từ thành thị về nông thôn vào danh sách được hỗ trợ nhà ở xã hội (cần sửa đổi Điều 76 thành “người lao động di cư từ thành thị về nông thôn, có hoàn cảnh khó khăn, chưa có nhà ở hoặc đang sống trong điều kiện nhà ở không đảm bảo, cần được xem xét là đối tượng được hỗ trợ nhà ở xã hội”). Nên ban hành quy định mới về “Chính sách ưu đãi cho nhà ở xã hội tại nông thôn”, bao gồm ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội, cũng như các khoản vay ưu đãi dài hạn, lãi suất thấp cho người lao động mua hoặc thuê. Ngoài ra cần triển khai chính sách hỗ trợ một phần chi phí xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người hồi hương thuộc hộ nghèo, thu nhập thấp, mở rộng các gói vay ưu đãi lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc quỹ địa phương để họ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Bên cạnh đó, cần có trợ cấp tái hòa nhập ban đầu, chính sách miễn giảm thuế và hỗ trợ tài chính cho các mô hình sản xuất nhỏ, hợp tác xã, doanh nghiệp sử dụng lao động hồi hương, nhằm tạo việc làm tại chỗ.
- Phát triển các chương trình hỗ trợ việc làm cho lao động hồi hương.
Để người lao động ổn định và phát triển lâu dài tại quê nhà, cần đồng bộ các giải pháp về đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp, cải thiện hạ tầng và hoàn thiện chính sách pháp lý gắn với nhu cầu địa phương, ưu tiên các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, thủ công truyền thống và chương trình OCOP. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp nông thôn, qua các nền tảng việc làm trực tuyến, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và mô hình hợp tác xã hiện đại, sẽ giúp lao động hồi hương tiếp cận thị trường, nguồn lực và cơ hội phát triển bền vững.
6. Kết luận
Qua nghiên cứu về di cư lao động từ thành thị về nông thôn và các quy định pháp luật liên quan tại Trung Quốc và Việt Nam, có thể thấy chính sách an sinh đối với nhóm này còn một số hạn chế. Thời gian gần đây, Trung Quốc đã từng bước điều chỉnh pháp luật nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn cho người lao động di cư, qua đó gợi mở những kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng ổn định, minh bạch và toàn diện, bảo đảm quyền tiếp cận ASXH cho mọi người dân, đặc biệt là nhóm lao động di cư từ thành thị về nông thôn.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] Melchers (2022). A simple overview of China's basic medical insurance SYSTEM. Available at https://www.melchers-china.com/posts/a-simple-overview-of-chinas-basic-medical-insurance-system/
[2] Theo 4 yếu tố gồm: tổng thời gian đóng bảo hiểm và mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm của người tham gia, mức lương bình quân của người lao động tại địa phương nơi người tham gia cư trú, số dư trong tài khoản cá nhân của người tham gia, và tuổi thọ trung bình của dân số đô thị.
[3] Theo Điều 3 Quyết định về việc thực hiện chế độ tăng dần tuổi nghỉ hưu (2024).
[4] Tại tỉnh Liêu Ninh, lao động có dưới 10 năm đóng bảo hiểm được hưởng 70%, từ 10 năm trở lên được hưởng 80% mức lương tối thiểu địa phương. (Theo Milan Vodopivec, Minna Hahn Tong (2008). China: Improving unemployment insurance. Truy cập tại https://documents1.worldbank.org/curated/ar/926611468219910356/pdf/447790NWP0Box327410B01PUBLIC10SP00820.pdf)
[5] Theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2010 của Trung Quốc, Chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho thai sản bao gồm các khoản: (i) Chi phí y tế để sinh con; (ii) Chi phí y tế cho kế hoạch hóa gia đình và (iii) chi phí cho các hạng mục khác theo quy định của pháp luật.
[6] FDI China (2025). Guide to Housing Fund in China. Available at https://fdichina.com/blog/housing-fund-in-china/.
[7] OECD là tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, nhìn chung có mức thu nhập cao. Số liệu từ: Zongyuan Zoe Liu (2025). What Is the Chinese Pension System and Why Are Its Problems Hard to Fix?. Truy cập tại https://www.cfr.org/blog/what-chinese-pension-system-and-why-are-its-problems-hard-fix.
[8] Điều 14 Quy định về bảo hiểm thất nghiệp năm 1999: Điều kiện cho người thất nghiệp được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp: a) đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đơn vị mà họ trực thuộc và bản thân họ đã thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm không ít hơn một năm; b. đã đình chỉ việc làm vì sự tự nguyện của họ; c) Đã đăng ký thất nghiệp và có yêu cầu việc làm mới. Người thất nghiệp được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp khác trong thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.
[9] Quỹ Phòng xa Trung ương Singapore là quỹ an sinh xã hội mang tính tiết kiệm bắt buộc, áp dụng cho công dân và người thường trú, với sự tham gia của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Quỹ hướng tới bảo đảm nhu cầu cơ bản khi về già hoặc mất khả năng lao động; các chế độ chủ yếu gồm hưu trí, tàn tật, nhà ở và y tế, trong đó mức hưởng gắn với mức đóng góp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1999). Quy định hành chính về Quỹ dự phòng nhà ở năm 1999.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1999). Quy định về Bảo hiểm Thất nghiệp năm 1999.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2010). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2010.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2024). Quyết định về việc thực hiện chế độ tăng dần tuổi nghỉ hưu năm 2024.
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2023). Luật Nhà ở năm 2023.
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008). Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014, 2013, 2014, 2015, 2018, 2020, 2023, 2024.
China’s Rural Vitalization (2018). The New Rural Cooperative Medical Care System. Available at http://p.china.org.cn/2018-01/15/content_50228021.htm.
FDI China (2025). Guide to Housing Fund in China. Available at https://fdichina.com/blog/housing-fund-in-china/.
Guangzhou International (2021). Notice of the Guangzhou Municipal Human Resources and Social Security Bureau, Guangzhou Municipal Finance Bureau and Guangzhou Municipal Office of the State Taxation Administration on Adjustments to Work Injury Insurance Contribution Rates in Guangzhou and Related Issues. Available at https://www.gz.gov.cn/guangzhouinternational/businessenvironmentoptimization/policies/PayingTaxes/content/post_7299386.html.
Melchers (2022). A simple overview of China's basic medical insurance SYSTEM. Available at https://www.melchers-china.com/posts/a-simple-overview-of-chinas-basic-medical-insurance-system/.
Milan Vodopivec, Minna Hahn Tong (2008). China: Improving unemployment insurance. Available at https://documents1.worldbank.org/curated/ar/926611468219910356/pdf/447790NWP0Box327410B01PUBLIC10SP00820.pdf.
Zongyuan Zoe Liu (2025). What Is the Chinese Pension System and Why Are Its Problems Hard to Fix?. Available at https://www.cfr.org/blog/what-chinese-pension-system-and-why-are-its-problems-hard-fix.
China’s legal framework on social security for migrant workers:
Implications for Vietnam
Pham Thi Anh Tuyet1
Bui Vu Thu Hoai1
1Hanoi Law University
Abstract:
This study examines the social security system for urban-to-rural migrant workers in China in order to assess its policy effectiveness. While China has achieved notable progress and demonstrated responsiveness to evolving socio-economic dynamics, the system continues to exhibit structural shortcomings, including regional disparities, limited inter-program connectivity, and persistent administrative barriers. Through this analysis, the study identifies key institutional and operational constraints, thereby providing a comparative basis for understanding policy design and implementation challenges in the context of labor mobility. The findings contribute to a deeper evaluation of social security governance for migrant workers and offer analytical insights relevant to the development of more coherent, inclusive, and equitable frameworks.
Keywords: social security law, consultation, China, Vietnam, migrant workers.
