Tóm tắt:
Hoạt động thương mại biên giới giữa nước ta và các nước có chung đường biên giới có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Để quản lý hoạt động này, từ năm 2006 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách, quy định về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới. Bài nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thương mại biên giới trên đất liền của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp, nhằm tăng cường công tác quản lý thương mại biên giới trên đất liền của Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Quản lý, hoạt động thương mại, tuyến biên giới đất liền, Việt Nam.
1. Các cơ quan tham gia quản lý thương mại biên giới
Hoạt động thương mại biên giới (TMBG) là cơ chế đặc thù so với thương mại chính thống, được quy định tại điều khoản riêng của WTO và các tổ chức kinh tế quốc tế, mang tính đa dạng, phong phú và có tính linh hoạt cao về điều kiện kinh doanh, chủ thể kinh doanh, quy mô mặt hàng, phương thức kinh doanh, phương thức thanh toán và những hình thức dịch vụ hỗ trợ thương mại. Chính vì vậy, để quản lý hoạt động TMBG, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ban Chỉ đạo TMBG Trung ương do Bộ trưởng Bộ Công Thương làm Trưởng ban, Thứ trưởng Bộ Công Thương phụ trách lĩnh vực TMBG làm Phó Trưởng Ban thường trực, cùng với các Ủy viên đến từ các Bộ: Ngoại giao, Quốc phòng, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Công an, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại mỗi tỉnh biên giới, Ủy ban nhân dân (UBND) thành lập Ban Chỉ đạo TMBG tỉnh do lãnh đạo UBND tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Công Thương làm Phó Trưởng Ban thường trực. Các Ủy viên là lãnh đạo các sở, ngành có liên quan tại địa phương. Sau bảy năm thành lập Ban chỉ đạo TMBG Trung ương, đến nay các địa phương có biên giới đất liền đều có Ban chỉ đạo cấp tỉnh, về cơ bản đã thống nhất công tác, điều hành hoạt động TMBG toàn quốc cũng như xử lý kịp thời, hiệu quả những vấn đề đặc thù; bước đầu tổng hợp, đánh giá tình hình thời gian qua và đề xuất, định hướng hoạt động giai đoạn tới.
2. Các chính sách quản lý thương mại biên giới của Việt Nam
2.1. Về chính sách quản lý hàng hóa trao đổi qua biên giới
Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã rất coi trọng hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua biên giới. Chính vì vậy, hàng loạt chính sách nhằm đẩy mạnh sự phát triển của thương mại biên giới, cũng như quản lý và kiểm soát một cách có hiệu quả thương mại biên giới. Trước đây, Việt Nam có chính sách riêng rẽ quản lý hoạt động buôn bán biên giới theo từng nước như Lào, Campuchia và Trung Quốc. Cụ thể, hoạt động buôn bán qua biên giới với Trung Quốc đã được điều chỉnh theo Chỉ thị số 94-CT ngày 25/3/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tổ chức và quản lý thị trường vùng Biên giới Việt - Trung trong tình hình mới và sau đó là Thông tư số 14/2001/TT-BTM của Bộ Công Thương về tổ chức và quản lý hoạt động buôn bán qua biên giới Việt - Trung. Đến năm 2003, Việt Nam chuyển sang quản lý hoạt động buôn bán qua biên giới theo một chính sách thống nhất, thể hiện qua Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý buôn bán hàng hóa qua biên giới với các nước có chung biên giới.
Để thúc đẩy hoạt động TMBG cũng như phù hợp với thực tế phát triển kinh tế vùng biên, ngày 7/11/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg về việc quản lý TMBG với các nước có chung biên giới, thay thế Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý buôn bán hàng hóa qua biên giới với các nước có chung biên giới. Tiếp đó, ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg, theo đó hoạt động TMBG có phạm vi rất rộng, bao gồm: (i) Hoạt động mua, bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài khác theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP; (ii) Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới; (iii) Buôn bán tại chợ biên giới, chợ CK, chợ trong khu KTCK; (iv) Hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới theo các phương thức được thỏa thuận trong Hiệp định Thương mại song phương giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước có chung biên giới và gần đây nhất, ngày 20/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg về việc quản lý hoạt động TMBG với các nước có chung biên giới. Vào ngày 30/12/2015, Thông tư số 52/TT-BCT về quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân tại Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động TMBG với các nước có chung biên giới đã được ban hành và có hiệu lực vào ngày 15/2/2016.
2.2. Chính sách đối với chủ thể tham gia thương mại biên giới
- Về thương nhân:
Trong hoạt động thương mại biên giới, thương nhân là một chủ thể chủ yếu. Chính vì vậy, trong Luật thương mại, cũng như các Nghị định của Chính phủ, quyết định của các bộ, ngành liên quan, đều quy định rất cụ thể. Gần đây nhất, theo Quyết định số 107/BCĐ-TMBG ngày 06/01/2016 của Ban Chỉ đạo TMBG Trung ương, về việc triển khai thực hiện Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới đã ghi rõ: Về lựa chọn thương nhân đáp ứng đủ các Điều kiện theo quy định của pháp luật được thực hiện mua bán hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg trong trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh biên giới chưa kịp công bố danh sách thương nhân trước 15/02/2016. Theo đó, thương nhân tham gia hoạt động thương mại biên giới bao gồm các tập đoàn, tổng công ty, công ty lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, tham gia hoạt động thương mại biên giới còn có các doanh nghiệp siêu nhỏ và đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh tại các khu vực biên giới. Đối tác kinh doanh từ các nước có chung biên giới cũng rất đa dạng, không chỉ thương nhân từ vùng biên giới, tỉnh biên giới mà còn từ các tỉnh, thành khác trong nội địa của các nước có chung biên giới.
- Về cư dân biên giới:
Theo Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền quy định: Cư dân biên giới hai bên là công dân Việt Nam và công dân nước láng giềng có hộ khẩu thường trú tại xã, phường, thị trấn (hoặc khu vực địa giới hành chính tương đương) có một phần địa giới hành chính trùng hợp với đường biên giới quốc gia trên đất liền. Hàng hóa của cư dân biên giới là hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam hoặc nước láng giềng do cư dân biên giới mua, bán, trao đổi ở khu vực biên giới hai bên để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của cư dân biên giới. Do vậy, Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới quy định chủ thể mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới bao gồm: Cư dân biên giới là công dân Việt Nam và công dân nước có chung biên giới có hộ khẩu thường trú tại các khu vực biên giới; và người có giấy phép của cơ quan công an tỉnh biên giới cho cư trú ở khu vực biên giới.
2.3. Các chính sách về cửa khẩu và chợ biên giới
- Về cửa khẩu:
Cửa khẩu xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới được quy định tại Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới, được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: i) Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam, nước có chung biên giới và nước thứ ba xuất nhập qua biên giới quốc gia; ii) Cửa khẩu chính được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam và nước có chung biên giới xuất, nhập qua biên giới quốc gia; iii) Cửa khẩu và các điểm thông quan khác thuộc Khu kinh tế cửa khẩu do Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập; iv) Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam và nước có chung biên giới ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia.
Nghị định số 112/2014/NĐ-CP căn cứ vào phạm vi đối tượng xuất, nhập, cửa khẩu biên giới đất liền được chia thành cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính (cửa khẩu song phương), cửa khẩu phụ và lối mở biên giới.
- Về chợ biên giới:
Theo Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ, thì: Chợ biên giới là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo); Chợ cửa khẩu là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền hoặc trên biển gắn các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu; Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: là chợ lập ra trong khu kinh tế cửa khẩu theo các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
2.4. Các chính sách về thuế, phí, lệ phí
- Về thuế:
Theo Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới thì thương nhân mua bán hàng hóa qua biên giới phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế theo quy định của pháp luật hiện hành đối với hàng hóa mua bán qua biên giới, được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật hiện hành và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Đồng thời, hàng hóa xuất khẩu dưới hình thức mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Về phí và lệ phí:
Theo Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới thì phí và lệ phí trong hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Điều này cho thấy rằng chưa có những ưu đãi riêng về phí và lệ phí. Hiện nay, hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính được các lực lượng chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành tại cửa khẩu thực hiện như sau: Biên phòng thu phí, lệ phí xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu quốc tế; Hải quan thu lệ phí Hải quan (Tờ khai hải quan, phương tiện vận tải); Kiểm dịch Y tế thu lệ phí; Kiểm dịch Y tế dự phòng; Kiểm dịch Y tế biên giới; Kiểm dịch thực vật thu lệ phí bảo vệ thực vật; Kiểm dịch động vật thu lệ phí thú y. Việc thu phí, lệ phí đối với các lực lượng chuyên ngành tại các cửa khẩu (Biên phòng, Hải quan, Kiểm dịch Y tế, Động vật, Thực vật) cơ bản thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính quy định về mức thu, nội dung thu.
2.5. Các chính sách về quản lý ngoại hối và thanh toán qua biên giới
- Về Quản lý ngoại hối:
Hệ thống văn bản về thương mại và quản lý ngoại hối đã tương đối đầy đủ, ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK qua biên giới và công tác quản lý của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế các văn bản ban hành trước đây đã xuất hiện một số hạn chế, vướng mắc, không còn phù hợp với quy định của nhà nước mới ban hành.
Hiện tại, nội dung về hoạt động đại lý đổi ngoại tệ của tổ chức kinh tế được quy định tại Nghị định số 89/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ của tổ chức kinh tế. Do có những bất cập nên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tiến hành rà soát, thực hiện xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 89/2016/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung.
Bên cạnh đó, NHNN đã xây dựng Thông tư hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung thay thế Quyết định số 689 nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hướng dẫn hoạt động thanh toán trong thương mại biên giới Việt - Trung phù hợp với các quy định mới của pháp luật, đồng thời kế thừa những quy định tại Quyết định 689 còn phù hợp với thực tiễn và sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Quyết định 689 để giải quyết những tồn tại, vướng mắc bất cập và phù hợp với tình hình mới.
- Về phương thức thanh toán:
Theo Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới quy định các phương thức thanh toán bao gồm: a) Thanh toán qua ngân hàng; b) Thanh toán không dùng tiền mặt: bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu; thông qua tài khoản phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam; thanh toán trực tiếp vào tài khoản của thương nhân tại ngân hàng khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới của Việt Nam; c) Thanh toán bằng tiền mặt. Tuy nhiên, trong Tờ trình số 182/TTr-NHNN ngày 16/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện Quyết định 52 thì mọi quy định thực hiện vẫn áp dụng đúng như thương mại quốc tế (từ mở tờ khai đến các phương thức thanh toán được phép trong thương mại biên giới...). Như vậy, Điều 4 Điểm a, b, c của Quyết định 52/2015/QĐ-TTg đến nay vẫn không thực hiện được, gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp đã phải dừng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Đồng thời, thương mại biên giới qua các cửa khẩu phụ, lối mở hàng hóa bị ngừng trệ và bế tắc, luôn tồn kho, làm giảm kim ngạch xuất khẩu.
2.6. Về chống buôn lậu qua biên giới
Nhận định tình hình buôn lậu thường diễn biến phức tạp, Ban chỉ đạo 389 của các tỉnh biên giới với sự tham gia của các lực lượng chức năng hàng năm đều xây dựng kế hoạch, phối hợp phòng chống buôn lậu, qua đó đã đạt được một số kết quả, góp phần cùng các lực lượng chức năng trên địa bàn kiểm soát được tình hình, không để xảy ra các đường dây tụ điểm phức tạp…
Cùng với cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan với việc áp dụng thông quan điện tử, tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu, lực lượng hải quan cũng thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng khác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại bằng cách tăng cường tiến hành thu thập thông tin, tuần tra, kiểm soát các địa điểm trọng yếu, nhạy cảm nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu hiệu quả.
3. Đánh giá công tác quản lý thương mại biên giới của Việt Nam
3.1. Những kết quả tích cực
Thứ nhất, cơ chế, chính sách nhằm quản lý thương mại biên giới, bao gồm hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân, hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới, hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới, đã được ban hành kịp thời. Do đó, cơ chế, chính sách quản lý hoạt động thương mại biên giới đã góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới những năm gần đây tăng trưởng ở mức cao, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của nước ta qua biên giới; thu hút dân cư ổn định cuộc sống tại khu vực biên giới, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng khu vực biên giới và thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và dịch vụ (du lịch) giữa nước ta với các nước có chung đường biên giới, quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước chung đường biên giới. Kim ngạch xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa qua biên giới giữa nước ta với các nước có chung đường biên giới từ năm 2008 đến năm 2016 đạt khoảng 10 tỷ USD/năm cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu đa dạng, dịch vụ thương mại biên giới từng bước phát triển; số lượng người, phương tiện xuất nhập cảnh tăng ở mức.
Thứ hai, chính sách thuế, phí, lệ phí đang từng bước được hoàn thiện: Chính sách thuế, phí, lệ phí đang từng bước được hoàn thiện, nhất là tại các khâu thủ tục. Những chính sách miễn giảm thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của thương nhân và cư dân biên giới trong hoạt động thương mại biên giới đã được xây dựng và thực thi. Bên cạnh đó, thủ tục về thuế, trong đó có hoàn thuế xuất khẩu đang được thúc đẩy tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân. Chính sách phí, lệ phí tại cửa khẩu từng bước được thúc đẩy theo hướng một đầu mối thu, thống nhất mức thu và giảm thiểu những chi phí không cần thiết cho thương nhân và cư dân biên giới.
Thứ ba, công tác chống buôn lậu, thất thu và gian lận thuế được tăng cường, nhờ đó, công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đã được quan tâm thực hiện với những giải pháp quyết liệt, giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thị trường trong nước.
3.2. Những điểm còn hạn chế
Thứ nhất, cơ quan quản lý thương mại biên giới ở Trung ương còn bị động và lúng túng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, cũng như các cơ chế quản lý và điều hành hoạt động thương mại biên giới giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới. Do Việt Nam chưa xây dựng được một chiến lược tổng thể, rõ ràng, đối với hoạt động thương mại biên giới nên công tác quản lý và điều hành hoạt động thương mại biên giới vẫn trong tình trạng phân tán, chia cắt, chưa có sự thống nhất, điều hành linh hoạt từ Trung ương đến địa phương. Các tỉnh biên giới đôi khi bị động trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý hoạt động thương mại biên giới.
Thứ hai, việc quản lý, điều hành thương mại biên giới mang tính đặc thù nhưng chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế chính sách chung về xuất nhập khẩu nên chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của các tỉnh biên giới. Trong khi đó, các văn bản pháp luật về thương mại biên giới do nhiều Bộ, ngành ban hành còn có sự khác nhau, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như hoạt động thương mại của doanh nghiệp.
Thứ ba, chế độ thông tin báo cáo, phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thường xuyên, chưa kịp thời cập nhật những thay đổi về cơ chế chính sách liên quan đến thương mại biên giới. Cơ chế phối hợp chưa nhịp nhàng nên ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý thương mại biên giới nói chung và công tác chỉ đạo, điều hành nói riêng.
4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thương mại biên giới
- Đối với Chính phủ:
Thứ nhất, Chính phủ khẩn trương chỉ đạo xây dựng chiến lược phát triển quan hệ kinh tế - thương mại biên giới cả tầm dài hạn và trung hạn, để từ đó cụ thể hóa thành các chương trình hành động cụ thể. Bên cạnh đó, cần thực hiện một cách triệt để cải cách hành chính trong hoạt động thương mại biên giới tại khu vực cửa khẩu, đơn giản hóa các thủ tục quản lý xuất nhập khẩu, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết đặc biệt là thủ tục thông quan xuất nhập khẩu nhằm giảm ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu.
Thứ hai, quy định cụ thể việc phân cấp quản lý về thương mại biên giới cho UBND cấp tỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật quản lý ngoại thương (đang dự thảo), Nghị định của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền và các thông tư hướng dẫn để căn cứ pháp lý cho UBND các tỉnh biên giới điều hành hoạt động thương mại biên giới một cách chủ động và linh hoạt, phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật của từng tỉnh và trong từng giai đoạn cụ thể.
Thứ ba, đàm phán với phía Trung Quốc để hai bên cùng công nhận loại hình lối mở biên giới (hiện đang tồn tại trên thực tế tại tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc nhưng phía Trung Quốc chưa công nhận và thường có công hàm phản đối khi Việt Nam cho xuất hàng hóa qua các lối mở này).
Thứ tư, xây dựng chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để hình thành các đầu mối kinh doanh đối với một số mặt hàng xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi tại các cửa khẩu biên giới. Có chính sách hỗ trợ tín dụng để các doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu hàng hóa đã qua chế biến vào sâu trong nội địa thị trường các nước có chung biên giới.
Thứ năm, xây dựng chính sách đầu tư, trang bị phương tiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện hỗ trợ, kinh phí và tăng cường lực lượng quản lý tại các cửa khẩu biên giới đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động thương mại biên giới.
- Đối với các Bộ, ngành:
Thứ nhất, Bộ Công Thương nghiên cứu, xây dựng chính sách đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá cho hàng hóa của Việt Nam cũng như hỗ trợ các thương nhân tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa trong hoạt động thương mại biên giới.
Thứ hai, nghiên cứu hoàn thiện chính sách tổ chức các dịch vụ giao nhận và các kênh phân phối hàng hóa từ vùng sản xuất đến khu vực cửa khẩu: Nghiên cứu cơ chế phối hợp, điều hành hoạt động thương mại biên giới để kết hợp được kênh lưu thông hàng hoá từ vùng sản xuất đến khu vực cửa khẩu.
Thứ ba, Bộ Tài chính chủ trì nghiên cứu, đề xuất cơ chế thu thuế, phí, lệ phí ở cửa khẩu biên giới theo hướng thuận tiện, đơn giản, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp đầu tư và để các địa phương thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới.
Thứ tư, tập trung triển khai có hiệu quả nội dung các Hiệp định đã ký kết giữa Việt Nam - Lào trong năm 2015: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Lào và Hiệp định thương mại biên giới Việt Nam - Lào ký tháng 6/2015; Hiệp định thương mại biên giới Việt - Trung ký tháng 9/2016. Tiếp tục triển khai tổ chức thực hiện, đánh giá các nội dung đã ký kết trong Biên bản hợp tác với 06 tỉnh Bắc Lào giai đoạn 2015-2017 và chuẩn bị các nội dung hợp tác giai đoạn 2017-2019; từng bước nâng cao đời sống cư dân biên giới, kết nối thị trường hai nước, tạo điều kiện hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước giao thương phát triển.
Thứ năm, về vấn đề thanh toán biên mậu: Với quan điểm của NHNN tại Tờ trình số 182/TTr-NHNN, cơ quan này coi hoạt động thương mại biên giới là hoạt động xuất nhập khẩu thông thường và tham chiếu cơ sở pháp lý là các quyết định từ năm 2004 cho đến nay. Tuy nhiên, một số văn bản đã hết hiệu lực vì Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 2016 đã được ký kết. Nếu chính sách thương mại biên giới không bắt kịp với thực tiễn thì các doanh nghiệp có nỗ lực đến đâu cũng không thể hoạt động được. Để tạo môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu được an toàn và thuận lợi, đẩy mạnh thương mại biên giới cửa khẩu phụ, lối mở, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển mối quan hệ buôn bán, giao thương của các doanh nghiệp của hai địa phương có chung biên giới, tạo việc làm cho người lao động, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh cần xây dựng chính sách đặc thù thương mại biên giới tỉnh với thị trường Trung Quốc linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế theo Quyết định 52/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Bên cạnh đó, việc quy định phương thức thanh toán trong thương mại biên giới cần linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế như sau: Hàng đổi hàng hoặc đổi trừ công nợ hai bên hoặc ba bên; thanh toán bằng tiền mặt (khoản thanh toán trên 20 triệu đồng cho các chi phí phát sinh liên quan được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp); bên mua được thanh toán trực tiếp hoặc thông qua tổ chức, cá nhân tại Việt Nam thanh toán vào tài khoản của bên bán tại ngân hàng khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới Việt Nam. Việc thanh toán đó phải được chứng minh là tiền bán hàng căn cứ trên tờ khai hải quan xác nhận thực xuất.
Thứ sáu, tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới; Quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân tại Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới;
- Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh biên giới:
Ngoài sự điều hành, cơ chế phối hợp liên ngành của Ban Chỉ đạo thương mại biên giới cần xây dựng quy chế phối hợp trong quản lý thương mại biên giới giữa các cơ quan chức năng ở Trung ương và UBND các tỉnh biên giới trong việc tổ chức, quản lý, điều hành và nâng cao hiệu quả của hoạt thương mại biên giới, nhất là tạo điều kiện thuận lợi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá qua biên giới đất liền.
Phối hợp với các tỉnh cùng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, Campuchia và Lào triển khai thực hiện xây dựng chợ, cặp chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu, chợ phiên biên giới. Ngoài ra, thực hiện các chính sách của Trung ương nhằm phát triển thương mại biên giới như xây dựng, cải thiện các chợ biên giới, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và phát triển các kênh thương mại về các vùng biên giới.
Triển khai thực hiện đúng tinh thần của Thông tư số 34/2016/TT-BCT ngày 28/12/2016 của Bộ Công Thương. Thông tư số 54/2015/TT-BCT ngày 30/12/2015 của Bộ Công Thương quy định Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới.
Bài viết nằm trong khuôn khổ đề tài: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển và quản lý thương mại (hàng hóa và dịch vụ) biên giới vùng Tây Bắc. Mã số KHCN-TB.18X/13-18, được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2013 - 2018 "Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc”.
Tài liệu tham khảo:
1. Đỗ Thị Ánh (2016), “Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế của Lào giai đoạn 1991- 2011”, Tạp chí Lý luận chính trị bản điện tử, http://lyluanchinhtri.vn/.
2. Báo điện tử Công Thương (2016), Cơ hội gia tăng thương mại Việt - Lào từ các hiệp định thương mại, http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/co-hoi-gia-tang-thuong-mai-viet-lao-tu-cac-hiep-dinh-thuong-mai
3. Trần Thu Hà (2009) Hoạt động biên mậu của các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội.
4. Dinyar Lakaka, Quân Anh Nguyễn, Yuan Xiaohui (2011), Lộ trình Khu Kinh Tế xuyên biên giới, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.
5. Thực trạng quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới với Việt Nam (2015) http://bienphongvietnam.vn/nghien-cuu-trao-doi/thong-tin-tu-lieu/1546-ddd.html
6. Phát triển quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung thành hình mẫu của quan hệ hữu nghị, láng giềng và hợp tác trong thế kỷ XXI (2016) http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2016/40781/Phat-trien-quan-he-thuong-mai-bien-gioi-Viet-Trung-thanh.aspx
Status of management of trade activities along the Vietnamese land border and policy recommendations
MA. TRAN DANG QUYNH
Vietnam People's Public Security Office
ABSTRACT:
Cross border trade activities between us and countries sharing the borderline plays an important role in socio-economic development. In order to manage this activity, since 2006, the Prime Minister has issued a number of policies and regulations on the management of border trade activities with countries sharing the border. The paper analyzes and assesses the current state of border trade management in Viet Nam, thus proposing a number of recommendations and solutions to strengthen the management of trade along Vietnamese land border in the near future.
Keywords: Management, commercial activities, land border, Vietnam.
