Tiến trình lịch sử về doanh nhân và việc vận dụng tinh thần doanh nhân vào điều kiện Việt Nam

Thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế ở Việt Nam đã được đề xuất. Nhiều diễn đàn được mở ra

Quan điểm của các nhà kinh tế học thế kỷ XX về doanh nhân

Mặc dù doanh nhân và tinh thần doanh nhân đã xuất hiện trong kinh tế học qua hai thế kỷ, nhưng đến thế kỷ XX, chủ đề này mới trở thành một trong những mối quan tâm thực sự. Nghiên cứu về doanh nhân và tinh thần doanh nhân kế thừa các kết quả trước đó và tiếp tục được thực hiện đồng thời ở nhiều khía cạnh, bao gồm cả quá trình tâm lý, hành vi, và chức năng kinh tế và xã hội của doanh nhân. Chính vì vậy, các quan điểm về doanh nhân và tinh thần doanh nhân đã được phát triển một cách đa dạng.

Frank H. Knight (1885-1972) - người sáng lập trường phái kinh tế học Chicago cho rằng, tinh thần doanh nhân là sự tự tin, trong điều kiện không chắc chắn, vào khả năng dự báo nhu cầu tương lai và từ đó tìm kiếm các yếu tố để khởi sự, vận hành doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tiềm ẩn trên thị trường. Tinh thần doanh nhân được thể hiện qua quá trình (i) dự báo nhu cầu tương lai, (ii) dự kiến lợi nhuận thu được từ việc đáp ứng nhu cầu đó và đồng thời (iii) đánh giá các dự báo cũng như (iv) lựa chọn các cách thức hoạt động tốt nhất để đạt được thành công trong sản xuất kinh doanh.

Còn Joseph A. Schumpeter (1883-1950), nhấn mạnh khía cạnh sáng tạo của doanh nhân trong kinh doanh. ở đây, sự sáng tạo được hiểu là quá trình doanh nhân ứng dụng các sáng chế đã có (chứ không phải là đưa ra sáng chế mới), và từ đó, sản xuất ra những sản phẩm mới hoặc công nghệ mới, các nguồn nguyên liệu mới, cách thức tổ chức sản xuất mới cũng như mở ra các thị trường mới. Lợi nhuận trong kinh doanh là phần thưởng cho sự sáng tạo của doanh nhân. Do đó, hoạt động của doanh nhân làm cho thị trường luôn thay đổi, tiến tới những trạng thái cân bằng mới với các sản phẩm mới, công nghệ mới và thị trường mới.      

Khi nghiên cứu vai trò của doanh nhân trong quá trình tổ chức sản xuất, Harvey Leibenstein bổ sung quan điểm của Francois Quesnay về vai trò của doanh nhân trong tổ chức sản xuất. Leibenstein đưa ra khái niệm tình trạng không đạt hiệu quả: doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả các yếu tố sản xuất và do đó sản lượng thực tế thấp hơn tiềm năng. Điều này xảy ra khi những người làm thuê lại theo đuổi mục đích riêng và có thể không phục vụ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, doanh nhân phải có tinh thần sáng tạo nhằm khắc phục tình trạng này: nếu những người làm việc trong doanh nghiệp không có đủ nỗ lực làm việc cần thiết thì cần tạo ra áp lực để khuyến khích họ duy trì được mức độ quan tâm đủ lớn đến công việc phải thực hiện.

Đến cuối thế kỷ XX, Mark Casson muốn hệ thống hóa lý luận và xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về doanh nhân. Casson sử dụng cách tiếp cận chức năng để phân tích chức năng của doanh nhân trong quá trình trao đổi xã hội và cho rằng, doanh nhân, người chuyên môn hóa thực hiện việc cân nhắc và đưa ra quyết định sử dụng phối hợp các nguồn lực khan hiếm. Cơ hội đến với doanh nhân khi xảy ra tình trạng, quá trình phân bổ các nguồn lực không hiệu quả do xuất hiện công nghệ mới hoặc thông tin mới. Về nguyên lý, khái niệm doanh nhân của Casson không phụ thuộc vào thể chế hay loại hình tổ chức. Tuy nhiên, Casson, theo truyền thống nghiên cứu về tinh thần doanh nhân, chỉ tập trung phân tích hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân với động lực chính là lợi ích cá nhân: doanh nhân theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh.

Bên cạnh các nghiên cứu xác định bản chất của doanh nhân và tinh thần doanh nhân, một số nhà kinh tế đã phân tích tác động của tinh thần doanh nhân để giải thích quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Randall G. Halcome, khi phân tích mô hình tăng trường kinh tế của Robert Solow, đã cho thấy, tinh thần doanh nhân là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế không giới hạn. Đó là do, doanh nhân luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất thông qua áp dụng công nghệ mới, cách thức tổ chức sản xuất mới, để thu được lợi nhuận cho chính mình. Đây cũng là cách thức thị trường phân bổ hiệu quả các nguồn lực (tiến đến đường giới hạn năng lực sản xuất) và phân bổ lại các nguồn lực cho những cách thức sử dụng hiệu quả hơn (đường giới hạn sản xuất được đẩy ra xa hơn). Hơn nữa, Halcome đã chỉ rõ, tinh thần doanh nhân là nguồn gốc của tiến bộ xã hội, khi họ áp dụng các sáng chế và dự đoán trước sự phát triển của thị trường, tạo ra các loại sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, mở ra các thị trường mới cho các dòng lưu thông hàng hóa; từ đó, chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần được cải thiện và nâng cao.

Từ cuối thế kỷ XX trở đi, việc nghiên cứu đã hướng đến áp dụng công cụ định lượng sự phát triển tinh thần doanh nhân. ở cấp độ cá nhân, các nhà nghiên cứu thừa nhận, các đặc trưng đã được phân tích trước đó, như sự tự tin, khả năng chấp nhận rủi ro, mức độ sẵn sàng bắt tay vào kinh doanh, để xây dựng các thang đo lường tinh thần doanh nhân của mỗi cá nhân.

Như vậy, nghiên cứu hệ thống về doanh nhân và tinh thần doanh nhân đã trải qua lịch sử gần ba thế kỷ. Các nhà nghiên cứu mỗi thời kỳ đã đặt nghiên cứu của mình vào bối cảnh lịch sử cụ thể và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của lý thuyết về doanh nhân và tinh thần doanh nhân. Những kết quả đó đã đặt nền móng cho hướng nghiên cứu xác định ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội và đề xuất chính sách phát triển tinh thần doanh nhân nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Đề xuất nghiên cứu về doanh nhân và tinh thần doanh nhân trong điều kiện Việt Nam

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để có thể xây dựng được các luận cứ khoa học cho quá trình tiếp tục hoàn thiện các chính sách phát triển giới doanh nhân, hướng đi phù hợp hiện nay là kế thừa các kết quả mà các nhà kinh tế học đã đạt được để tiến hành các nghiên cứu đánh giá sự phát triển tinh thần doanh nhân, đóng góp của giới doanh nhân vào tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đến quá trình phát triển đó.

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước ở khía cạnh kinh tế và quản lý liên quan đến chủ đề doanh nhân và tinh thần doanh nhân, như nghiên cứu “Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay” của Hồ Văn Vinh và các cộng sự (2003), nghiên cứu “Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam: Thực trạng và giải pháp của Lê Khắc Triết (2005)” và nghiên cứu “Tinh thần kinh doanh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam và chính sách, biện pháp nhằm phát huy tinh thần kinh doanh trong sự nghiệp phát triển đất nước” của tập thể các nhà nghiên cứu Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2003). Nhưng các nghiên cứu này chưa đi đến xây dựng nền tảng lý thuyết đầy đủ cho phân tích sự phát triển tinh thần doanh nhân và cũng chưa phân tích được xu hướng phát triển của tinh thần doanh nhân ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có một số nghiên cứu nước ngoài, ví dụ nghiên cứu “Việt Nam: Con hổ trong quá trình chuyển đổi?” của Brian Van Arkadie và Raymond Mallon (2003) và “Lịch sử hay chính sách: Tại sao các tỉnh miền Bắc không tăng trưởng nhanh hơn” của nhóm các nhà nghiên cứu Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (2004). Những nghiên cứu này, mặc dù đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến phát triển tinh thần doanh nhân, nhưng chưa xác định và phân tích đầy đủ tác động của các yếu tố đa dạng trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.

Một số quan điểm về tác động của yếu tố văn hóa - xã hội đối với sự phát triển giới doanh nhân Việt Nam cũng đã được đưa ra. Đoàn Nhật Dũng, trong bài “Xây dựng một thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp mới” (Tạp chí Cộng sản, 2002, số 25) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo, như quan điểm luân lý và danh phận, trật tự sĩ, nông, công, thương, tư tưởng không được mưu lợi. Thời kỳ bao cấp, với cách nhìn nhận lũ con phe, cơ chế xin – cho, cũng ảnh hưởng lớn đến quan điểm xã hội đối với giới doanh nhân Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những vấn đề này cần phải được nghiên cứu đầy đủ và sâu hơn nữa.

Chính vì vậy, cần phải tiếp tục có các nghiên cứu một cách hệ thống trong điều kiện đặc thù của nước ta, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp, chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa hình thành từ chế độ phong kiến và cơ chế quản lý tập trung, bao cấp trước đây, để làm rõ vai trò của giới doanh nhân, những đóng góp của họ đối với xã hội, các yếu tố khuyến khích và các yếu tố cản trở sự phát triển các doanh nghiệp. Đó sẽ là những luận cứ khoa học để tác động làm thay đổi quan niệm xã hội lạc hậu, đổi mới cơ chế quản lý, xây dựng và thực hiện các chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra.

 

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Đình Cung, Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn và David Dapice, History or policy: Why dont Northen provinces grow faster?[Lịch sử hay chính sách: tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn], Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Hà Nội, 2004.

Nguyễn Anh Dũng và nhóm nghiên cứu, Tinh thần kinh doanh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam và chính sách, biện pháp nhằm phát huy tinh thần kinh doanh trong sự nghiệp phát triển đất nước, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Hà Nội, 2003.

Đoàn Nhật Dũng, “Xây dựng một thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp mới, tạp chí Cộng sản, số 25, 2002.

Trần Thị Hạnh, Về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
  • Tags: