- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường; Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển được hưởng những lợi ích thực sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới; Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân ở các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
WTO thực hiện 5 chức năng sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; Giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO.
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên.
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO.
- Thực hiện hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu.
Các nguyên tắc pháp lý của WTO
WTO được xây dựng dựa trên 4 nguyên tắc pháp lý nền tảng là: Tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng.
Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Tối huệ quốc (Most favoured nation – MFN) là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO. Nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó, thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác. Thông thường, nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương. Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO, thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất”.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia:
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT) được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử bình đẳng như hàng hóa cùng loại trong nước. Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ chưa áp dụng đối với các cá nhân và pháp nhân. Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hóa, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ có khác nhau. Đối với hàng hóa và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp thì phải được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong nước về thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển. Đối với lĩnh vực dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ. Đối với các nước, về nguyên tắc, không được áp dụng những hạn chế số lượng xuất khẩu và nhập khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ trong các Hiệp định của WTO, cụ thể là các trường hợp: Mất cân đối cán cân thanh toán; Nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước; Bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều; Vì lý do sức khỏe và vệ sinh và vì lý do an ninh quốc gia.
Một trong những ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là vấn đề đãi ngộ cho sản xuất hoặc xuất, nhập khẩu. Vấn đề này được quy định lần đầu tại Hiệp định GATT năm 1947 và được điều chỉnh trong thỏa thuận Vòng đàm phán Uruguay về trợ cấp và thuế đối kháng (SCM). Thoả thuận SCM được áp dụng cho cả các nước phát triển và đang phát triển. Hiệp định mới về trợ giá được phân chia thành 3 loại: xanh, vàng và đỏ theo nguyên tắc: “đèn hiệu giao thông”.
Nguyên tắc tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thống thương mại đa phương, mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường là tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO.
Nguyên tắc mở cửa thị trường
Nguyên tắc mở cửa thị trường hay còn gọi là tiếp cận thị trường, thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài. Trong hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình, thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa.
Về mặt chính trị, mở cửa thị trường thể hiện nguyên tắc tự do hóa thương mại của WTO. Về mặt pháp lý, tiếp cận thị trường thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà nước này đã chấp thuận khi đàm phán gia nhập WTO.
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
Cạnh tranh công bằng thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của vụ Uruguay kiện 15 nước phát triển (năm 1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu. Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Đại hội đồng GATT đã phải thành lập Nhóm công tác để xem xét vụ này. Nhóm công tác đã đưa ra kết luận, về mặt pháp lý, việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng là trái với các quy định của GATT, nhưng việc áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những “điều kiện cạnh tranh công bằng” mà Uruguay có quyền mong đợi từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của Uruguay. Trên cơ sở kết luận của Nhóm công tác, Đại hội đồng GATT đã thông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên quan đàm phán với Uruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó. Vụ kiện của Uruguay đã tạo ra một tiền lệ mới cho các nước đang phát triển. Từ nay, các nước phát triển có thể bị kiện ngay cả khi về mặt pháp lý không vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong Hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc “cạnh tranh công bằng”.
Cơ cấu tổ chức của WTO
WTO có cơ cấu 3 cấp: Các cơ quan lãnh đạo chính trị có quyền ra quyết định, bao gồm Hội nghị Bộ trưởng WTO, Đại hội đồng WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại; Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương; Các cơ quan thực hiện chức năng hành chính, thư ký là Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO.
Hội nghị Bộ trưởng WTO: Là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO, họp ít nhất 2 năm 1 lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất cả các thành viên.
Đại hội đồng WTO: Đại hội đồng WTO hoạt động trên cơ sở có trụ sở thường trực tại Geneva, Thụy Sỹ. Thành viên của Đại hội đồng WTO là đại diện ở cấp Đại sứ của Chính phủ tất cả các thành viên.
Đại hội đồng có quyền thành lập các ủy ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lên Đại hội đồng là: ủy ban về thương mại và phát triển; ủy ban về các hạn chế cán cân thanh toán; ủy ban về ngân sách, tài chính và quản trị; ủy ban về các hiệp định thương mại khu vực.
Cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
Ngoài việc thực hiện các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO còn thực hiện các chức năng khác được trao trực tiếp theo các hiệp định thương mại đa phương, trong đó quan trọng nhất là chức năng giải quyết tranh chấp và kiểm điểm chính sách thương mại. Vì vậy, Đại hội đồng WTO đồng thời là “Cơ quan giải quyết tranh chấp” khi thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp và là “ Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại” khi thực hiện chức năng kiểm điểm chính sách thương mại.
Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương
WTO có 3 hội đồng được thành lập để giám sát việc thực thi 3 hiệp định thương mại đa phương là: Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS. Ba hội đồng này báo cáo trực tiếp các công việc của mình lên Đại hội đồng WTO. Tất cả các nước thành viên đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3 hội đồng này.
Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO
WTO có Ban thư ký rất quy mô, bao gồm 500 CNVC thuộc biên chế chính thức của WTO, đứng đầu Ban Thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO. Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, có vai trò điều hành và vai trò chính trị trong hệ thống thương mại đa phương
