Nhập khẩu chiếm ưu thế

            Một vài thập kỷ gần đây, hàng nhập khẩu luôn chiếm phần lớn trong tổng doanh số bán lẻ và tiêu dùng hàng may mặc tại Nhật. Nhập khẩu quần áo tăng trung bình 7,5% mỗi năm trong 2 thập kỷ qua. Khi quần áo nhập khẩu chiếm phần lớn trong doanh thu bán lẻ quần áo ngày càng tăng của Nhật thì thị phần của quốc gia xuất khẩu quần áo lớn nhất, Trung Quốc sẽ tăng. Vào cuối những năm 1980 thị phần của Trung Quốc tại thị trường nhập khẩu quần áo của Nhật Bản thấp hơn 40% nhưng đến năm 2007 con số này đã là 92%. Điều này là do quần áo của Trung Quốc có giá trung bình tương đương hoặc thấp hơn giá của các nước khác.

            Thị phần của bông tăng

            Thị phần của bông tại thị trường quần áo Nhật Bản đã có sự tăng trưởng đáng kể trong một thập kỷ qua, điều này phản ánh vai trò dẫn đầu của Nhật trong xu hướng thời trang toàn cầu. Giá trị nhập khẩu tính bằng đồng Yên của quần áo làm bằng chất liệu bông tại nhật tăng nhanh hơn là giá trị nhập khẩu quần áo nói chung. Điều này chứng tỏ rằng người tiêu dùng của Nhật ngày càng yêu thích chất liệu bông. Trong vòng 1 thập kỷ qua, thị phần của quần áo có chất liệu bông đã tăng từ 40 - 48%. Điều này cũng giống như xu hướng tại Mỹ.

            Về hàng dệt thoi, thị phần của quần áo làm từ bông tăng ổn định từ 40% của năm 1996 lên 45% năm 2007, chủ yếu là sự tăng mạnh ở các loại quần như quần jean, và trang phục dành cho phụ nữ và các em bé gái. Về hàng dệt kim, thị phần quần áo làm từ bông tăng từ 37% năm 1998 lên 50% năm 2007, chủ yếu tăng ở nhóm quần áo ngủ (tăng 234% trong 10 năm qua).

            Trong cuộc điều tra về xu hướng tiêu dùng người Nhật được thực hiện bởi Công ty Côttn Incorporated's Global Lifestyle MonitorTM, khi được hỏi về loại xơ nào mà họ muốn dùng làm chất liệu trong trang phục hiện nay, 51% chọn bông, tăng 5,6% so với năm 1999.

            Dệt kim phát triển mạnh hơn dệt thoi

            Từ đầu những năm 1990, người tiêu dùng Nhật Bản cũng như người Mỹ đều thích sự thoải mái, co giãn tốt của hàng dệt kim hơn là dệt thoi.Thị phần của hàng dệt kim trên thị trường quần áo chất liệu bông nhập khẩu tăng từ 48% (1990) lên 55% (2007). Tại Mỹ, thị phần của dệt kim cũng theo xu hướng trên, tăng từ 37% lên 50%. Mặc dù cả quần áo dệt kim lẫn dệt thoi nhập khẩu vào Nhật đều tăng trong giai đoạn này nhưng nhu cầu hàng dệt kim tăng rõ ràng hơn cả. Tại cả thị trường Nhật lẫn Mỹ, sự phát triển mạnh của chất liệu bông trong quần áo dệt kim được thể hiện trong doanh số bán lẻ và khối lượng nhập khẩu.

            Nhập khẩu quần áo tăng mặc dù giảm phát

            Sự tương đồng giữa thị trường quần áo Nhật và Mỹ không có nghĩa là trở thành xu hướng toàn cầu. Ngược với xu hướng giảm phát tại rất nhiều các thị trường khác như EU và Mỹ, giá quần áo nhập khẩu vào Nhật Bản lại tăng ổn định trong những năm gần đây. Giá đã tăng ở cả mặt hàng dệt kim và dệt thoi, cho cả 2 nhóm dành cho nam và nữ. Quần áo chất liệu bông nói riêng đã tăng, giá trung bình cho một kilo tăng từ 1.760 Yên năm 2000 lên 2.230 Yên năm 2007 (tăng 26,7%, cao hơn mức tăng trung bình 24% của nhập khẩu dệt may nói chung). Nhập khẩu quần áo dành cho phụ nữ và bé gái tăng mạnh hơn là cho đàn ông và bé trai, giá cũng tăng 3% đến 24% tùy nhóm trong 2 thập kỷ qua.

            Sự phân phối quần áo chất liệu bông giữa nhóm dành cho nam và nữ tại Nhật Bản cũng giống như tại Mỹ. Quần áo bằng bông thống trị thị trường quần áo nữ với tỷ trọng khối lượng so với quần áo nam là 57% - 43%, còn tỷ trọng giá trị là 61% - 39%. Tính cả khối lượng lẫn giá trị thì thị phần quần áo chất liệu bông tăng nhanh trong 2 thập kỷ qua tại cả hàng dệt thoi lẫn dệt kim.

            Xu hướng chi tiêu cho quần áo

            Theo ước tính, chi tiêu của mỗi người Nhật năm 2007 dành cho quần áo là 155.200 Yên, tăng 1,2% so với năm 2006. Tại 2 kênh bán lẻ quần áo lớn nhất của Nhật (cửa hàng bán lẻ và siêu thị), doanh thu năm 2007 đạt 6,2 nghìn tỷ Yên, khoảng tầm 58 triệu USD. Dựa vào dân số khoảng 127 triệu người (năm 2007), chi tiêu của 1 người Nhật dành cho quần áo trung bình 48.800 Yên, tầm 459 USD.

            So sánh giữa 2 kênh bán lẻ thì các cửa hàng vẫn chiếm ưu thế, chiếm khoảng 2/3 thị phần bán lẻ. Điều này ngược với Mỹ khi mà siêu thị là kênh bán quần áo lớn nhất.

            Ở tại cả 2 kênh bán lẻ này, thị phần của quần nữ tăng ổn định trong 30 năm qua, xu hướng này cũng đang diễn ra tại Mỹ và EU. Doanh thu của quần áo dành cho phụ nữ và trẻ em tăng từ 54% năm 1980 lên 70% năm 2007.

 

  • Tags: