Bàn về tận dụng tiềm năng, phát triển du lịch Thanh Hóa trở thành một ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn

ThS. MAI ANH VŨ và LÊ TRƯỜNG (Trường Đại học Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch Thanh Hóa)

TÓM TẮT:

Du lịch là ngành kinh tế đặc biệt mang lại hiệu suất kinh tế cao tạo ra các hiệu ứng tác động tới các ngành nghề liên quan như vận tải, thương mại… lại ít tác động tới môi trường, xã hội và có tính phát triển bền vững. Tận dụng được các tiềm năng để phát triển sẽ khiến du lịch thành một trong những mũi nhọn kinh tế của Thanh Hóa. Do đó, bài báo này sẽ bàn về tiềm năng phát triển du lịch, những thực trạng, cũng như một số giải pháp để thực hiện việc đưa du lịch thành một ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn của Tỉnh.

Từ khóa: Tiềm năng, du lịch, Thanh Hóa, kinh tế mũi nhọn, dịch vụ

I. Đặt vấn đề

Báo cáo thường niên Travel & Tourism Economic Impact 2016 Viet Nam của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới cho thấy, với mức 6,6% đóng góp cho GDP, du lịch Việt Nam đứng thứ 40/184 nước về quy mô đóng góp trực tiếp vào GDP và xếp thứ 55/184 nước về quy mô tổng đóng góp vào GDP quốc gia. Cụ thể, tổng đóng góp của du lịch vào GDP Việt Nam, bao gồm cả đóng góp trực tiếp, gián tiếp và đầu tư công là 584.884 tỷ đồng (tương đương 13,9% GDP). Trong đó, đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP là 279.287 tỷ đồng (tương đương 6,6% GDP).

Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, du lịch đã được định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức Du lịch Thế giới đã nhận định rằng: “Tại nhiều quốc gia đang phát triển, du lịch là nguồn thu nhập chính, ngành xuất khẩu hàng đầu, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội cho sự phát triển”.

Nghị quyết số 08 ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị đặt ra mục tiêu cho ngành Du lịch đến năm 2020 cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực. Thu hút được 17 - 20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 20 tỷ USD; tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu việc làm trực tiếp. Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác.

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Thanh Hóa nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành kinh tế hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thanh Hóa là một tỉnh đất rộng người đông, vị trí địa lý thuận lợi có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch như: tài nguyên du lịch tự nhiên (Địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật…), tài nguyên du lịch nhân văn (Di tích lịch sử-văn hóa, lễ hội,…). Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc tổ chức khai thác các tiềm năng du lịch của Thanh Hóa vẫn còn nhiều hạn chế, chưa nhận được sự đầu tư đúng đắn chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng, để hấp dẫn khách du lịch. Do đó cần có những giải pháp nhằm tận dụng các tiềm năng để phát triển du lịch, tối đa hóa lợi nhuận nhằm đưa du lịch thành một ngành đem lại lợi ích kinh tế hàng đầu đối với Thanh Hóa.

II. Tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh, hội tụ đủ các điều kiện, các nguồn lực thỏa mãn nhu cầu phát triển ngành kinh tế du lịch trở thành trọng điểm du lịch quốc gia.

1. Về vị trí địa lý

Thanh Hóa nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, Phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía Đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông. Với vị trí cửa ngõ của hành lang kinh tế Đông - Tây, Côn Minh - Hải Phòng và là trục giao lưu nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, Nam Bộ, Thanh Hóa có hệ thống giao thông đường bộ huyết mạch: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt Xuyên Việt, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển của tỉnh, đường chiến lược 15A xuyên suốt vùng trung du và miền núi Thanh Hóa, đường 217 nối với nước bạn Lào. Về đường sắt, Thanh Hóa có 8 ga tàu hỏa. Về đường thủy, Thanh Hóa có đường thủy nội địa với 697,5km, có 4 hệ thống sông chính và bờ biển dài 102 km cùng với cảng biển nước sâu Nghi Sơn. Về hàng không, Thanh Hóa có Cảng Hàng không Thọ Xuân với tuyến Thanh Hóa - TP. Hồ Chí Minh, Thanh Hóa - Buôn Mê Thuột, Thanh Hóa - Nha Trang và chuẩn bị mở nhiều tuyến bay khác. Những điều kiện giao thông trên là những nhân tố thuận lợi trong hội nhập quốc tế và phát triển dịch vụ du lịch.

2. Về kinh tế - xã hội

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 9,05%, vượt kế hoạch đề ra. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 12.300 tỉ đồng, vượt 10,8% dự toán, trong đó thu nội địa đã trừ tiền sử dụng đất là 8.700 tỉ đồng, vượt 18% dự toán. Đây là con số chứa đựng nhiều sự cố gắng lớn của tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh kinh tế trong nước có chiều hướng chậm lại, dự ước không đạt kế hoạch. Đây là năm thứ hai liên tiếp, Thanh Hóa đạt con số trên 10 nghìn tỉ đồng thu ngân sách.

Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng ngành Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản chiếm 16.6% (giảm 1,3%); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 40,6% (tăng 1,4%); Dịch vụ chiếm 38,5% (tương đương cùng kỳ), Thuế sản phẩm chiếm 4,3% (giảm 0,1%). GRDP bình quân đầu người ước đạt 1.620USD, gần bằng mục tiêu đề ra.

Năm 2016, ước tính số lượt khách đạt 6.277.000 lượt khách, tăng 13,5% so với cùng kỳ 2015, vượt 0,4% kế hoạch năm; phục vụ 11.200.500 ngày khách, tăng 13,7% so với cùng kỳ 2015; tổng thu từ khách du lịch đạt 6.298 tỷ đồng, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2015, vượt 0,77% kế hoạch năm 2016 (trong đó khách quốc tế: 154.500 lượt khách, tăng 21,7% so với năm 2015; tổng thu từ khách quốc tế đạt 39.600.000 USD).

3. Tiềm năng du lịch tự nhiên

Thanh Hóa có đường biển dài, tương đối bằng phẳng với những điểm nghỉ mát nổi tiếng như: Sầm Sơn; Quảng Vinh (Quảng Xương); Hải Tiến (Hoằng Hóa); Hải Hòa (Tĩnh Gia)… Ở vùng núi đá vôi Thanh Hóa có nhiều hang động đẹp như động Từ Thức (Nga Sơn); Động Long Quang trên núi Hàm Rồng (TP. Thanh Hoá); động Hồ Công (Vĩnh Lộc); quần thể hang động Trường Lâm (Tĩnh Gia); động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc); động Bàn Bù hay còn gọi là Hang Ngán (Ngọc Lặc)... Một số hang động khác như: hang Con Moong (Thạch Thành); động Cây Đăng (Cẩm Thuỷ); Lò Cao kháng chiến Hải Vân - Bến En (Như Thanh) và những khu rừng nguyên sinh hàng trăm năm tuổi như Bến En, Pù Luông, Pù Hu, Xuân Liên,… Ngoài ra, Thanh Hóa còn có các khu bảo tồn như: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy. Đặc biệt hơn nữa Xứ Thanh còn có Suối cá thần Cẩm Lương, thuộc làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa hơn 70km về phía Tây, là suối cá tự nhiên và ngày nay trở thành điểm du lịch lý thú ngày càng hấp dẫn du khách đến với Thanh Hóa.

4. Tiềm năng du lịch nhân văn

Thanh Hóa có1.535 di tích văn hóa lịch sử và danh thắng, trong đó có 145 di tích quốc gia, 658 di tích cấp tỉnh. Đặc biệt phải kể đến di tích lịch sử Thành Nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa Thế giới; Khu di tích văn hóa lịch sử Lam Kinh, Di tích khảo cổ hang Con Moong; Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân; Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật khu di tích Bà Triệu đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt. Ngoài ra, Thanh Hóa còn có rất nhiều các khu di tích nổi tiếng như: cụm di tích Nga Sơn (Động Từ Thức, Cửa biển Thần Phù, Chiến khu Ba Đình, đền thờ Mai An Tiêm); Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn; Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời Chiến tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng; Thái miếu nhà Hậu Lê; Đền Bà Triệu huyện Hậu Lộc; Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.... Hệ thống văn hóa phi vật thể của Thanh Hóa cũng rất đa dạng và đặc sắc, từ các loại hình nghệ thuật, các điệu hò trên sông Mã đến các làn điệu dân ca, dân vũ (hò sông Mã, hát sẩm xoan, múa đèn Đông Anh, trò diễn Xuân Phả, múa sạp, múa xòe…); những lễ hội (Bà Triệu, Lam Kinh, Sòng Sơn, Hàn Sơn…); ẩm thực (chè Lam Phủ Quảng, bánh gai Tứ Trụ, bưởi Luận Văn, báo Sâm, nem chua, dừa, cá Mè sông Mực, nước mắm Du Xuyên…); làng nghề truyền thống (đúc đồng Thiệu Trung, tơ Hồng Đô, đá núi Nhồi, dệt thổ cẩm, chiếu cói Nga Sơn…), và phong tục tập quán của nhiều dân tộc anh em trên cùng vùng đất Xứ Thanh.

III. Thực trạng ngành Du lịch Thanh Hóa

Ngành Du lịch Thanh Hóa trong những năm vừa qua đã thực sự đem lại hiệu quả kinh tế, tạo ra được nhiều công ăn việc làm, kéo theo sự phát triển của một số ngành dịch vụ khác. Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 67 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, 680 cơ sở lưu trú với 22.300 phòng (trong đó có 172 cơ sở được xếp hạng khách sạn từ 1-5 sao, với 8.150 phòng); 380 cơ sở xếp hạng nhà nghỉ đủ tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch với 9.900 phòng. Ngành Du lịch Thanh Hóa đã tạo ra công ăn việc làm cho hơn 40.000 lao động, đem lại 6.298 tỷ đồng tổng thu từ du lịch, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước. Du lịch Thanh Hóa đã thu hút được 65 dự án với tổng vốn đăng ký gần 18 ngàn tỷ đồng đầu tư tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn. Du lịch Thanh Hóa phát triển cũng kéo theo các ngành kinh tế - xã hội khác đi lên như việc mở được các thêm thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ cho các ngành khác, thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. Các ngành nông nghiệp, thủy sản, giao thông, xây dựng, viễn thông, văn hóa của Thanh Hóa đã có thêm động lực phát triển.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc tổ chức khai thác các tiềm năng du lịch của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, như chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng, mang thương hiệu Thanh Hóa để hấp dẫn khách du lịch. Chính vì vậy, hàng năm số lượng khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế đến Thanh Hóa còn hạn chế, đóng góp của ngành Du lịch trong tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh chưa cao. Chất lượng dịch vụ du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu. Hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch chưa cao. Môi trường du lịch, an toàn thực phẩm và an toàn giao thông còn nhiều bất cập. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế về nguồn lực, sự phối hợp và tính chuyên nghiệp hiệu quả chưa cao. Nguồn nhân lực cho ngành Du lịch vừa thiếu vừa yếu. Doanh nghiệp du lịch phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; vốn và trình độ quản lý còn hạn chế.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém trên là do các ngành chưa thực sự coi du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa và hội nhập quốc tế cao, mang nội dung văn hóa sâu sắc; thiếu chính sách quốc gia phù hợp để du lịch phát triển theo đúng tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ theo qui luật thị trường. Thể chế, chính sách phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Sự phối hợp liên ngành, liên vùng hiệu quả còn thấp; đầu tư dàn trải, chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội cho phát triển du lịch. Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho du lịch chưa được quan tâm đúng mức.

IV. Phát triển du lịch thanh hóa trở thành một ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn

Với tiềm năng, lợi thế như vậy, tỉnh Thanh Hóa cần có những giải pháp phát triển du lịch đưa du lịch thành mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành Du lịch tỉnh Thanh Hóa:

- Tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của Ngành Du lịch trong điều kiện hiện nay. Mặc dù đã có chuyển biến rõ nét bước đầu trong thời gian qua, song cần tiếp tục tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức sâu rộng trong xã hội về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc phát triển du lịch, nhất là nhận thức tư tưởng của cán bộ quản lý của các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương. Tạo ra sự chuyển biến thực chất trong việc ban hành chính sách phát triển du lịch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương trọng điểm phát triển du lịch.

- Giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Trong đó việc quy hoạch, đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông công cộng, quy hoạch không gian công cộng, rồi thông tin, truyền thông, năng lượng, môi trường và các lĩnh vực liên quan phải bảo đảm được tính đồng bộ, đủ điều kiện và tiện nghi phục vụ du khách; đặc biệt là hệ thống các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, nhà hàng, thông tin, tư vấn và các dịch vụ phục vụ du lịch...

- Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch: Theo đó, hệ thống sản phẩm chất lượng, đặc sắc, đa dạng và đồng bộ, có giá trị tăng cao sẽ được xây dựng, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của du khách; phát triển sản phẩm du lịch xanh, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương. Quy hoạch, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch dựa trên thế mạnh nổi trội và hấp dẫn về tài nguyên du lịch; tập trung ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch biển, du lịch văn hóa và sinh thái; từng bước hình thành hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch của tỉnh.

- Giải pháp đào tạo và phát triển nhân lực: Nhằm tăng cường về chất lượng và số lượng, bảo đảm cân đối cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Du lịch và hội nhập quốc tế. Mạng lưới cơ sở đào tạo sẽ được quan tâm đầu tư xây dựng hiện đại, đạt chuẩn hóa về chất lượng giáo viên và chuẩn hóa về giáo trình khung đào tạo. Việc tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch sẽ phù hợp nhu cầu phát triển du lịch từng thời kỳ, từng vùng, miền trong cả nước; chú trọng nhân lực quản lý và lao động có tay nghề cao; thực hiện đa dạng hóa phương thức đào tạo, khuyến khích đào tạo tại chỗ và tự đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp.

- Giải pháp về đầu tư và chính sách phát triển du lịch: Tỉnh Thanh Hóa cần có chính sách ưu tiên hỗ trợ đầu tư và liên kết, huy động nguồn lực để tập trung đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng cung ứng dịch vụ du lịch, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Các khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia, đô thị du lịch; các khu, tuyến, điểm du lịch thuộc các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa nhưng có tiềm năng phát triển du lịch. Thực hiện chính sách phát triển bền vững với chính sách ưu đãi phát triển du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm; khuyến khích xã hội hóa, thu hút các nguồn lực cả trong nước và ngoài nước vào các lĩnh vực liên quan của du lịch.

- Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế: Ngành Du lịch sẽ tích cực triển khai hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa phương đã ký kết; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, gắn thị trường du lịch Việt Nam với thị trường du lịch khu vực và thế giới; mở rộng quan hệ, tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, tăng cường hội nhập và nâng cao hình ảnh, vị thế của du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

- Giải pháp đổi mới, nâng cao công tác quản lý về du lịch, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách của tỉnh về du lịch: Thực hiện tốt công tác hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch bảo đảm chất lượng và tính khả thi cao. Nâng cao vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm môi trường, văn minh du lịch; nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và toàn xã hội về du lịch, đề cao trách nhiệm xã hội và môi trường trong hoạt động du lịch. Khuyến khích doanh nghiệp có tiềm lực và thương hiệu mạnh, phát triển doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ; nhất là hộ gia đình gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

V. Kết luận và định hướng

Với những tiềm năng sẵn có và những nỗ lực của tất cả các cấp, ban, ngành cũng như sự quyết tâm của người dân xứ Thanh, chắc chắn Du lịch tỉnh Thanh Hóa sẽ ngày càng khởi sắc và phát triển hơn nữa, xứng đáng trở thành điểm hấp dẫn du khách. Để sớm hoàn thiện là ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn, ngành Du lịch Thanh Hóa mong muốn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ hơn nữa từ các ngành, các cấp và sự phối hợp của các địa phương, cộng đồng dân cư và sự nỗ lực của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành nhất định sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đề ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo thường niên Travel & Tourism Economic Impact 2016 Viet Nam (WTTC) của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới tháng 3/2016.

2. Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Bộ Chính trị năm 2017.

3. Báo cáo Công tác văn hóa thể thao du lịch 2016, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa 2016.

4. Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội Thanh Hóa năm 2016 - kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, kỳ họp thứ hai, HĐND tỉnh Thanh Hóa khóa XVI.

5. Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 9/2/2015 về việc Phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”.

SOLUTIONS TO EXPLOIT THE POTENTIAL OF THANH HOA PROVINCES TOURISM INDUSTRY AND MAKE THIS SECTOR BECOME THE PROVINCIAL SPEARHEAD INDUSTRY

Master. MAI ANH VU

LE TRUONG

ABSTRACT:

Tourism is a special economic industry which usually has substantial economic benefits and could produce positive effects on relevant economic sectors, such as transport and commerce sectors. Moreover, this industry usually exerts less adverse impacts on the environment and society and also is more sustainable than other industries. Thanh Hoa province could exploit these aforementioned distinctive advantages of the tourism industry to make the tourism industry become a provincial spearhead industry. This study is to analyze the potential and the current situations of Thanh Hoa province’s tourism industry. The study also proposes some solutions to facilitate the development of the provincial tourism industry.  

Keywords:  Potential, tourism, Thanh Hoa province, spearhead industry, services.


Xem toàn bộ ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 04 + 05 tháng 04/2017 tại đây