Tóm tắt:
Nghiên cứu nhằm đáp ứng được yêu cầu thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và yêu cầu việc quản lý tài sản công cũng phải được đổi mới trong phương thức quản trị. Từ đó, gợi mở hoàn thiện pháp luật về tài sản công để giải quyết các thách thức trong bối cảnh mới.
Từ khóa: pháp luật, quản lý tài sản, tài sản công, chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Trong kỷ nguyên mới của dân tộc - giai đoạn của phát triển bền vững, xây dựng xã hội công bằng và thịnh vượng, cả hệ thống chính trị đang chuyển mình và tự đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền để đưa dân tộc tiếp tục tiến lên đang đặt ra cấp bách[1].
Những ý niệm về tài sản công đã xuất hiện tại các văn kiện của Đảng và quan điểm của các vị lãnh đạo từ những ngày đầu lập nước. Ngay từ năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tài sản công cộng là nền tảng để khôi phục và xây dựng kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh[2]. Đến năm 1979, quan niệm về tài sản công được Trung ương Đảng chính thức hóa tại Nghị quyết số 20-NQ/TW, trong đó nêu rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải bảo vệ chu đáo những tài sản Nhà nước đã giao như kho tàng, cửa hàng. Ngày 04/12/1991, Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Trung ương Đảng tiếp tục có những định hướng đột phá để đưa tài sản Nhà nước vào lưu thông, phát huy giá trị, tạo nguồn lực cho Nhà nước như: cho thuê đối với tài sản không sử dụng đến, thanh lý tài sản, kiểm kê toàn bộ tài sản, nhà, đất. Để thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm, trong đó nổi bật là Nghị định số 14/1998/NĐ-CP quy định về quản lý tài sản nhà nước.
Ở giai đoạn tiếp theo, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 để tăng cường chỉ đạo quản lý chặt chẽ tài sản công. Trên cơ sở đó, việc quản trị tài sản nhà nước đã được “luật hóa” tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008. Ngày 21/6/2017, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản công thay thế cho Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước[3]. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo lập những nguyên tắc chung nhất trong quản trị tài sản công. Tuy nhiên, giai đoạn mới tới đây đòi hỏi công tác quản lý tài sản công phải tiếp tục cải tiến, đổi mới, để đáp ứng các yêu cầu của thời đại.
2. Những thách thức mới đối với quản trị tài sản công
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng theo các hiệp định tự do thế hệ mới khiến tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước đều chịu tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp từ các yếu tố bên ngoài (như chiến tranh thương mại, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xung đột cục bộ,...)[4]. Vì vậy, đất nước phải tận dụng mọi nguồn lực mà tài sản công là một “quốc lực” trọng yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo nội lực chống chịu trước các biến động toàn cầu.
Tiếp đó, xuất hiện nhiều tài sản phi truyền thống (như tài sản mã hóa, tài sản kỹ thuật số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo,...). Do đó, tại Hội nghị lần thứ 11, Trung ương Đảng khóa XIII đã bổ sung một số nhận định quan trọng về sự xuất hiện lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo phát triển đột phá chưa từng có. Trong tương lai, việc ứng dụng chuyển đổi số vào công tác quản lý đòi hỏi Nhà nước phải sở hữu và vận hành các tài sản phi truyền thống. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế đặc biệt hoặc đổi mới phương thức hiện có để Nhà nước quản trị được các tài sản phi truyền thống này[5].
Ngoài ra, hiện nay nhiều thách thức an ninh phi truyền thống xuất hiện ngày càng rõ rệt như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng, tội phạm xuyên quốc gia[6],… đang đặt ra yêu cầu mới đối với công tác dự báo và ứng phó[7]. Công tác dự báo và ứng phó không chỉ phụ thuộc vào yếu tố chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhân lực, mạng lưới thông tin tình báo mà còn nằm ở việc các quốc gia trang bị tài sản tối tân như thế nào cho các lực lượng được giao nhiệm vụ dự báo và ứng phó.
3. Yêu cầu của Đảng đối với công tác quản lý tài sản công trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trước những thách thức mới của thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều phát triển trong lý luận, đưa ra các tư duy chiến lược đột phá nhằm định hình công tác quản lý tài sản công một cách căn bản và toàn diện, cụ thể như sau.
Thứ nhất, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cần được thực hiện song song với chống lãng phí. Trước đây, chống lãng phí chưa được tách bạch thành nội dung độc lập mà thường được xử lý như vấn đề đi kèm với phòng, chống tham nhũng. Trong kỷ nguyên mới, chống lãng phí được Đảng nhận diện là nhiệm vụ độc lập cần được thực hiện song song với chống tham nhũng, tiêu cực. Trong công cuộc đó, lĩnh vực quản lý tài sản công đang phải đối diện với nhiều dạng thức của lãng phí[8]. Cụ thể, lãng phí năng lượng và tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là lãng phí trong khai thác khoáng sản; lãng phí do quản lý, sử dụng tài sản công không hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp; lãng phí do không sử dụng tài sản công; lãng phí do không kịp thời thu hồi, điều chuyển, chuyển giao tài sản công có hiệu suất thấp[9]. Điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước cần tiếp tục chủ động hoàn thiện chính sách, pháp luật về tài sản công để ngăn chặn tối đa các rủi ro gây ra lãng phí.
Thứ hai, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực tài sản công không chỉ là việc xử lý nghiêm minh các vụ án, vụ việc mà còn phải quan tâm đến kiểm soát quyền lực (gồm cả quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước)[10]. Theo đó, kiểm soát quyền lực thực hiện thông qua xây dựng các cơ chế tham gia quản trị tài sản công và mở rộng phạm vi phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, nhân dân, chuyên gia, báo chí. Đơn cử như bổ sung cơ sở pháp lý để người dân địa phương tham gia ý kiến vào phương án sử dụng các cơ sở công cộng, nhà sinh hoạt cộng đồng hoặc các hạ tầng văn hóa khác[11].
Thứ ba , quản lý tài sản công trong kỷ nguyên mới phải đề cao hiệu suất của tài sản. Điểm khác biệt trong giai đoạn trước, công tác quản lý tài sản công chú trọng vào tính toàn vẹn của tài sản (tức ưu tiên hàng đầu là không thực hiện trái quy định pháp luật tài sản công) thì ở kỷ nguyên này bên cạnh việc bảo toàn tài sản, quản trị tài sản công phải được thực hiện một cách tối ưu, khai thác tối đa tiềm lực của tài sản để tạo ra giá trị thặng dư. Tuy nhiên, việc khai thác tài sản công vẫn cần tính đến khả năng phục hồi, duy trì của tài sản.
Thứ tư, trong nhiều năm qua, trụ cột quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản trị tài sản công nói riêng là phương pháp mệnh lệnh hành chính. Tuy nhiên, phương thức này có khuyết điểm là thiếu động lực, thiếu sáng tạo và thiếu gắn kết với nhu cầu xã hội[12]. Trong kỷ nguyên mới, việc quản trị tài sản công cần ưu tiên tính linh hoạt, có tính đến việc cởi mở để các doanh nghiệp tham gia quản trị tài sản quốc gia gắn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này đã được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó yêu cầu cần đa dạng hóa, nâng cao hiệu quả các hình thức hợp tác giữa nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân[13]. Ngoài ra, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của Đảng cũng đòi hỏi những phương pháp quản trị linh hoạt để phục vụ cho quá trình lưu thông, phân phối lại tài sản công trong toàn hệ thống chính trị được thuận tiện nhưng đảm bảo không để xảy ra thất thoát.
Thứ năm, việc tái cấu trúc hệ thống chính trị sẽ dẫn đến nhu cầu thay đổi hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công. Cụ thể, diện tích làm việc, xe ô tô, trang thiết bị, máy móc thường được bố trí căn cứ vào chức danh, chức vụ, số lượng biên chế. Qua nhiều năm hoàn thiện, hệ thống tiêu chuẩn, định mức đã được xây dựng và áp dụng tương đối ổn định. Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, nhiều chức danh quy định tại Kết luận số 35-KL/TW có tiêu chuẩn được trang bị tài sản công sẽ không còn nữa, ví dụ như Bí thư Đảng ủy Khối trực thuộc Trung ương, Tổng Cục trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện,… trong khi đó, xuất hiện một số chức danh mới như Phó Bí chuyên trách của các Đảng bộ trực thuộc Trung ương. Đồng thời, nhiều chức danh sẽ có vai trò chính trị và địa vị pháp lý cao hơn, như Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cần phải được trang bị nhiều loại tài sản với tính năng hiện đại hơn. Hay việc bỏ cấp huyện và sắp xếp lại cấp xã cũng dẫn đến hiện thực khách quan là các xã có quy mô lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ trước, đòi hỏi chính quyền địa phương cấp xã cũng cần được trang cấp xe ô tô và bố trí diện tích trụ sở làm việc khác so với thời kỳ trước. Từ đó, phát sinh yêu cầu trong việc nghiên cứu sửa đổi hệ thống tiêu chuẩn, định mức phù hợp với tình hình mới.
Thứ sáu, ứng dụng các thành tựu của kỷ nguyên số và tạo điều kiện cho phát triển khoa học công nghệ. Kỷ nguyên mới cũng đòi hỏi phải ứng dụng được các thành tựu, tiến bộ của khoa học - công nghệ vào công tác quản trị tài sản công. Vì vậy, cần bổ sung kịp thời đủ căn cứ pháp lý để bố trí nguồn tài chính đầu tư, mua sắm, thuê, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ số phục vụ cho công tác quản lý nhà nước; đổi mới quy trình quản lý, sử dụng, khai thác, xử lý hiện tại theo hướng ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ như trí tuệ nhân tạo.
Thứ bảy, phân định lại thẩm quyền giữa các cấp, các ngành. Cụ thể, không tổ chức cấp huyện sẽ khiến tư duy về phương pháp quản trị hành chính nhà nước thay đổi căn bản. Trước đây, các vấn đề về tài sản công phức tạp tại cấp xã hoặc các sự vụ tài sản có tính chất liên xã thường do cấp huyện giải quyết. Trong kỷ nguyên mới khi không còn cấp huyện đòi hỏi ngành tài sản công sẽ phải thay đổi theo hướng quy định trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản công phù hợp cho cấp xã[14]. Thẩm quyền trước đây quy định cho cấp huyện giờ cần tính toán để phân định lại cho cấp tỉnh hoặc cấp xã. Vấn đề nào có thể phân cấp mạnh mẽ cho cấp xã, vấn đề nào còn nhiều phức tạp buộc phải quy định thẩm quyền cho cấp tỉnh đang là vấn đề cần suy tính kỹ.
Cuối cùng, công tác quản lý, sử dụng tài sản công cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh hoa của nhân loại. Trong kỷ nguyên mới, pháp luật tài sản công cần cập nhật các phương pháp quản trị hành chính hiện đại, quản trị thích ứng với xu thế của thời đại. Để làm được điều này, các chủ thể theo thẩm quyền cần tăng cường đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế để tìm kiếm các nguồn lực và sự hỗ trợ từ thế giới đối với lĩnh vực tài sản công. Ngoài ra, việc xây dựng pháp luật về tài sản công cần tăng cường tham khảo kinh nghiệm quốc tế, có chọn lọc các phương pháp phù hợp với thực tiễn của Việt Nam để nội luật hóa[15]. Đơn cử có thể tham khảo kinh nghiệm phân định thẩm quyền và quy trình phối hợp quản trị tài sản công của Nhật Bản cũng rất đáng để tham khảo. Theo đó ở Trung ương, mỗi Bộ đều quản lý nhà nước đối với tài sản công chuyên dùng theo lĩnh vực, trong khi đó, Bộ Tài chính phụ trách quản lý và xử lý các tài sản công thông thường (ordinary property). Ví dụ: Bộ Đất, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch có thẩm quyền xây dựng, bảo trì các trụ sở làm việc của nhà nước và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan[16]. Việc khảo sát tình trạng nhà, xác lập ưu tiên cải tạo, thực hiện chuyển đổi xanh hạ tầng của nhà nước được giao cho Ủy ban xây dựng Chính phủ[17]. Còn ở địa phương, Điều 238 Luật Tự chủ địa phương phân cấp triệt để cho chính quyền cấp cơ sở quản trị toàn bộ tài sản công của địa phương, theo đó chính quyền địa phương có quyền cho thuê, trao đổi, bán, tặng cho, sử dụng tài sản công để đầu tư hoặc tham gia giao dịch bảo đảm đối với các tài sản công thông thường[18].
4. Một số gợi mở hoàn thiện pháp luật về tài sản công
Để đáp ứng được yêu cầu thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và giải quyết các thách thức trong bối cảnh mới, một số gợi mở sửa đổi, bổ sung pháp luật về tài sản công được đề xuất gồm:
Một là, pháp luật về tài sản công chuyển đổi từ xu hướng kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt để vừa đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước vừa khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Điển hình như giảm các quy trình hành chính để các cơ quan, tổ chức, đơn vị được quyền chủ động quản trị tài sản công, ví dụ cắt giảm thủ tục lập đề án khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đối với trường hợp trực tiếp khai thác để tăng cường sự chủ động cho các Ban Quản lý Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế, Khu Công nghệ cao,... trong việc đưa tài sản công vào vận hành.
Hai là, chuyển từ vận hành thủ công sang vận hành dựa trên công nghệ hiện đại và chuyển đổi số. Theo đó, bổ sung quy định về quản trị các tài sản công đặc thù như trí tuệ nhân tạo, tài sản kỹ thuật số, tài sản mã hóa. Đồng thời, tạo khung pháp lý cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công trên nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), có khả năng phân tích đa chiều và chuyên sâu; có thể chọn lọc, cung cấp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước (ví dụ: chọn lọc số liệu về trụ sở và xe ô tô để dự kiến bố trí cho các cơ quan trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy), có thể phân tích về hao mòn, dự đoán tình trạng và khả năng duy trì của tài sản, từ đó đề xuất phương án duy tu, bảo dưỡng,… Tham khảo kinh nghiệm ở Nhật Bản, Bộ Đất, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch nước này đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện các cơ sở nhà, đất để trống, phân tích nguyên nhân, từ đó đề xuất phương án sử dụng, duy tu hoặc phá dỡ các cơ sở nhà đã xuống cấp trầm trọng[19]. Ngoài ra, có thể bổ sung quy định về việc xây dựng Hệ thống điện tử để phục vụ bố trí, sắp xếp tài sản công giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị và bán, thanh lý tài sản công cho khu vực tư.
Ba là, pháp luật về tài sản công chuyển từ cơ chế “xin - cho” sang cơ chế “giao - chịu trách nhiệm”. Điều này thể hiện rõ ở việc phân quyền, phân cấp. Các quy định thẩm quyền với tài sản công cần được sửa đổi theo hướng phân cấp triệt để quyền quyết định xử lý tài sản công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trung ương, chính quyền địa phương. Từ đó, Chính phủ, và Bộ Tài chính tập trung vào vai trò hoạch định chính sách, thực hiện hậu kiểm việc quản lý tài sản công. Chính quyền địa phương cấp tỉnh đảm bảo sự thống nhất về quản lý tài sản trong phạm vi địa phương phù hợp với chính sách chung của quốc gia và ra quyết định đối với các tài sản công có giá trị ở cấp mình quản lý. Chính quyền cấp cơ sở có vai trò quản lý, bảo vệ, theo dõi tình trạng tài sản, ra quyết định về việc quản lý, sử dụng các tài sản công; đồng thời, tổ chức các hoạt động để người dân trực tiếp giám sát và tham gia quản trị tài sản công.
Bốn là, sửa đổi hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng theo hướng linh hoạt hơn. Ưu tiên quy định các tiêu chí, điều kiện làm khung để mỗi cơ quan, đơn vị được xác định định mức tài sản công theo tình hình thực tế, có tính đến yếu tố đặc thù như tình hình kinh tế - xã hội, diện tích tự nhiên, quy mô quản lý của từng địa phương, chức năng chuyên ngành của từng cơ quan, đơn vị.
Có thể nói, đổi mới pháp luật quản lý tài sản công là một trong những yếu tố then chốt để Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới, trở thành quốc gia phát triển bền vững và thịnh vượng. Theo định hướng của Đảng, các yêu cầu mới đối với pháp luật tài sản công bao gồm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải gắn liền với kiểm soát quyền lực; tích cực ứng dụng công nghệ hiện đại; chuyển từ phương pháp hành chính mệnh lệnh sang quản trị kiến tạo, mở rộng hợp tác công - tư để tối ưu hóa nguồn lực, biến tài sản công thành “quốc lực” để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1]Tô Lâm (2024). Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức, lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới. Tạp chí Cộng sản.
[2]Hồ Chí Minh (1955). Bảo vệ tài sản công cộng. Báo Nhân dân, số 340.
[3]Sau đó Luật số 15/2017/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH14 và Luật số 90/2025/QH15.
[4]Nguyễn Chí Hiếu (2024). Nhận diện những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức chủ yếu của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Cộng sản.
[5]Phạm Thị Giang (2024). Thách thức của chuyển đổi số với quản trị nhà nước hiện đại. Tạp chí Quản lý nhà nước.
[6]Bùi Thị Thùy Dung, Triệu Mạnh Tùng (2025). Đổi mới tư duy pháp lý an ninh mạng trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản.
[7]Vũ Lê Thái Hoàng, Ngô Di Lân (2025). Bất ngờ chiến lược trong quan hệ quốc tế và một số hàm ý chính sách. Tạp chí Cộng sản.
[8]Tô Lâm (2024). Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Cộng sản.
[9]Hướng dẫn số 63-HD/BCĐTW ngày 28/4/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hướng dẫn một số nội dung trọng tâm về công tác phòng, chống lãng phí.
[10]Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
[11]Phạm Văn Phong (2025). Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị - Yêu cầu cấp thiết trong thực hành liêm chính công vụ. Tạp chí Cộng sản.
[12]Nguyễn Sĩ Dũng (2025). Công trình công - Quản trị tư. Báo điện tử Chính phủ.
[13]Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[14]Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.
[15]Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[16]Căn cứ Điều 5, 6, 7 của Luật Tài sản Quốc gia năm 1948 của Nhật Bản.
[17]Takanori Kosaka - Yasushi Akimoto, Research on the deterioration degree evaluation of national government buildings, Proceeding of the World Conference, ISBN 978-0-646-50372-1.
[18]Điều 238-5 (Chương IX quy định về tài chính) tại Luật Tự chủ địa phương (Local Autonomy Law).
[19]Jiji (2025). Government developing AI-based system to detect vacant houses. Available at https://www.japantimes.co.jp/news/2025/01/12/japan/ai-vacant-houses/.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 10/4/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước.
Bộ Chính trị (2025). Quy định số 368-QĐ/TW ngày 08/9/2025 về Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025). Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025, về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.
Legal reform in public asset management for the new era
under the leadership of the Communist Party of Vietnam
Nguyen Sy Huy1
Nguyen Cam Tu1
1Department of Public Asset Management, Ministry of Finance
Abstract:
This study responds to the imperative of institutionalizing the Communist Party of Vietnam’s recent policy directions and the emerging requirement to modernize public asset management practices. It examines the limitations of current management mechanisms and analyzes the need for innovation in governance approaches to ensure efficiency, transparency, and sustainability. Building on these insights, the study proposes key orientations for improving the legal framework on public asset management, aiming to address existing challenges and enhance state capacity in the evolving socio-economic context.
Keywords: law, property management, public property, politics, Communist Party of Vietnam.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 29/2025]
