Hoàn thiện pháp luật về các tổ chức tín dụng nhằm thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm

Bài báo nghiên cứu "Hoàn thiện pháp luật về các tổ chức tín dụng nhằm thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm" do Trần Ngọc Diệp Hà Giang (Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 13) thực hiện.

Tóm tắt:

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, đã có những điểm sửa đổi đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, Luật cần hoàn thiện một số nội dung như kiểm soát hoạt động bán bảo hiểm cho khách hàng khi thực hiện vay tiền tại các tổ chức tín dụng; xem xét việc siết chặt hạn mức tín dụng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp khi vay vốn; vấn đề xử lý nợ xấu và các tài sản đảm bảo giá trị khoản vay, thẩm định tài sản đảm bảo của khách hàng để tăng cường trách nhiệm xã hội của các tổ chức tín dụng đối với cộng đồng.

Từ khóa: các tổ chức tín dụng, kinh doanh có trách nhiệm, trách nhiệm xã hội.

1. Đặt vấn đề

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) của các tổ chức tài chính, các tổ chức khác liên quan đến tác động của hành động của họ đối với các bên liên quan nội bộ và bên ngoài (nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương,...). Tuy nhiên, CSR cũng được liên kết với vai trò là trung gian tài chính và tác động của hoạt động của các tổ chức đối với tiết kiệm, hiệu quả đầu tư, khả năng tiếp cận tín dụng không phân biệt đối xử, phát triển dịch vụ tài chính, bảo vệ rủi ro,...

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) của một doanh nghiệp thường được xác định từ danh sách các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các bên liên quan: chủ sở hữu, người lao động, công đoàn, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương, xã hội nói chung, chính phủ, cơ quan quản lý,... Những nghĩa vụ này phải tính đến bản chất của doanh nghiệp như một tổ chức kinh tế, tức là một tổ chức bị ràng buộc bởi nghĩa vụ xã hội nhất định là phải hoạt động hiệu quả. Do đó, CSR của một doanh nghiệp sẽ bao gồm nội dung đạo đức và xã hội chung vốn có của bất kỳ tổ chức nào, cùng với nội dung cụ thể phát sinh từ chức năng xã hội của nó: sự hài lòng của nhu cầu thị trường, tạo ra giá trị, tạo việc làm, phát triển con người cho các bên liên quan (Argandona, 2006).

Do đó, trách nhiệm xã hội cụ thể của một tổ chức tài chính sẽ được xác định bởi chức năng xã hội của tổ chức đó và các đặc điểm cụ thể của môi trường mà tổ chức đó hoạt động (Prior và Argandona, 2007). Ngoài ra, trách nhiệm cụ thể này còn hòa nhập với các trách nhiệm chung bắt nguồn từ vị thế của tổ chức tài chính với tư cách là một tác nhân đạo đức (trách nhiệm đạo đức và pháp lý đối với các hành động của chính mình và hậu quả của chúng), với tư cách là một tổ chức nhân văn (trách nhiệm phát sinh từ mục tiêu của tổ chức, cơ cấu, hệ thống khuyến khích và kiểm soát,...) và với tư cách là một thực thể tạo ra lợi nhuận (hiệu quả, tạo ra giá trị xã hội và giá trị cá nhân).

Tại Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) đã được Quốc hội ban ngày 18/01/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Để phù hợp với diễn biến phát triển của thị trường tài chính, Luật Các TCTD năm 2024 đã được ban hành gồm 15 chương, 210 điều, điều chỉnh nhiều vấn đề cốt lõi. Luật Các TCTD năm 2024 sửa đổi, bổ sung các nội dung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng, cho công tác giám sát của các cơ quan, ban, ngành liên quan đến hoạt động tài chính, các tổ chức, cá nhân khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các TCTD của ngân hàng chính sách, hoạt động của các TCTD phi ngân hàng (TCTD là hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính…). Điều này thúc đẩy phát triển toàn diện của thị trường tài chính theo hướng lành mạnh, bền vững hơn và các TCTD kinh doanh có trách nhiệm hơn.

2. Tổng quan về kinh doanh có trách nhiệm của các tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng từ khi xuất hiện tại Việt Nam, đã được “ưu ái” xác lập địa vị đặc biệt của mình hơn các loại tổ chức kinh tế khác trong xã hội thông qua hình ảnh pháp lý được quy định bởi đạo luật (là văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành). Khoản 38 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2024 đưa ra khái niệm về TCTD như sau: “Tổ chức tín dụng là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Và để đáp ứng kịp trước những biến động của nền kinh tế Việt Nam và thế giới, Quốc hội khóa XV đã ban hành Luật Các TCTD số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024. Như vậy, từ năm 1990 đến năm 2024, theo dòng chảy của thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế với thế giới, Nhà nước Việt Nam đã nhận thức rất sớm và đúng đắn về vị trí quan trọng của TCTD, từ chính những quy định cơ bản, còn sơ sài về cơ cấu tổ chức, hoạt động của TCTD trong Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính.

Chức năng xã hội chính của một tổ chức tài chính gồm: (1) cung cấp các dịch vụ trung gian giúp dòng tiền tiết kiệm chảy vào đầu tư (Argandona, 1995; De la Cuesta-Gonzalez và cộng sự, 2006; Prior và Argandona 2007). Một trung gian tài chính phát hành các khoản nợ phải trả (ví dụ: tiền gửi) mà nó đặt giữa những người tiết kiệm (hoặc các trung gian khác) và mua tài sản (cấp tín dụng) cho những người có kế hoạch đầu tư hoặc mua tài sản theo cách mà cả nợ phải trả và tài sản đều hấp dẫn khách hàng hơn sẽ xảy ra nếu các bên phải giao dịch trực tiếp với nhau; (2) Cung cấp thanh khoản, để người tiết kiệm có thể dễ dàng và nhanh chóng rút tiền của họ với chi phí thấp; (3) Giảm và phân tán rủi ro của người tiết kiệm (Ghatak và Guinnane, 1999). Điều này bao gồm việc đánh giá và quản lý rủi ro của người vay (vấn đề lựa chọn bất lợi); đảm bảo người vay sử dụng khoản vay một cách thận trọng để tối đa hóa khả năng trả nợ (vấn đề rủi ro đạo đức); giám sát sự thành công dự án của người vay (vấn đề kiểm toán) và thực thi việc trả nợ khi người vay (một cách chiến lược) cố gắng vỡ nợ (vấn đề thực thi); (4) Cung cấp chi phí tìm kiếm và giao dịch thấp; (5) Tạo ra một hệ thống thanh toán hiệu quả; (6) Cung cấp dịch vụ quản lý tài sản và tư vấn; (7) Kết quả của tất cả những điều trên là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phúc lợi của xã hội.

Trách nhiệm chung của họ sẽ là những trách nhiệm phát sinh từ chức năng xã hội của họ, trong khi trách nhiệm cụ thể của họ sẽ phát sinh từ bất kỳ đặc điểm cụ thể nào mà các chức năng này có thể có ở các quốc gia nơi các tổ chức hoạt động. Tóm lại, họ có trách nhiệm cung cấp cho người dân khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính (tài khoản vãng lai hoặc tiết kiệm, khoản vay, phương thức thanh toán và chuyển khoản, tư vấn tài chính,...) với các điều khoản tốt nhất có thể về lợi nhuận, chi phí và rủi ro. Việc tiếp cận này thường dành cho những người có tiềm năng trở thành khách hàng sinh lời, thường vì họ có thu nhập hoặc tài sản cao (ví dụ: họ có mức lương tương đối cao hoặc họ cung cấp đủ bảo lãnh và hồ sơ tài chính đã được biết đến có thể được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán của họ, hoặc họ là thành viên của các mạng lưới cổ phần tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính).

Do đó, tầm quan trọng tiềm tàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô là: họ cung cấp tín dụng và các dịch vụ khác cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, những người nếu không sẽ không thể tiếp cận được nguồn vốn vay, hoặc vì họ quá nhỏ, hoặc vì họ không thể cung cấp tài sản thế chấp hoặc vì họ sống quá xa mạng lưới tài chính. Họ cũng thường tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính khác, vì vậy thu hút một bộ phận lớn dân số vào hệ thống ngân hàng.

Có 3 loại hình tổ chức tham gia vào tài chính vi mô tại các thị trường, bao gồm:

Thứ nhất, có các ngân hàng (ngân hàng tư nhân và công cộng, ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng,...) cung cấp đầy đủ các dịch vụ truyền thống (tiền gửi và cho vay).

Thứ hai, có các tổ chức chuyên biệt, nhiều tổ chức trong số đó phát triển từ tín dụng được trợ cấp và các tổ chức phi chính phủ, bắt đầu bằng việc cung cấp tín dụng vi mô cho các bộ phận dân số nghèo nhất và khi luật pháp quốc gia cho phép mở rộng phạm vi sang hoạt động ngân hàng phi chuyên biệt.

Tuy nhiên, đối với các ngân hàng thương mại (tư nhân hoặc công lập), việc tham gia vào lĩnh vực tài chính vi mô không phải là một quyết định dễ dàng. Các ngân hàng truyền thống không quen thuộc với phân khúc tài chính vi mô và thường coi đây là lĩnh vực quá rủi ro hoặc không có lợi nhuận, một phần vì tài chính vi mô thường chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng truyền thống.

Các phương pháp đánh giá, đặc biệt là về lựa chọn và giám sát tín dụng không phù hợp với tín dụng vi mô. Tín dụng vi mô đòi hỏi nhiều nhân lực, điều này cản trở việc giảm chi phí thông qua việc sử dụng công nghệ mới (trừ khi công nghệ được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu đặc biệt của tín dụng vi mô, như chúng ta sẽ thấy sau). Ngoài ra, tổ chức, quy trình và đào tạo nhân viên cũng khác nhau giữa 2 loại hình kinh doanh.

Có những lý do kinh tế hợp lý để các ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường tài chính vi mô: họ tiếp cận được lượng khách hàng tiềm năng lớn với các cơ hội bán chéo sau đó; họ ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh chuyên biệt có thể phát triển đủ lớn, sau này có thể xâm chiếm thị trường ngân hàng thương mại truyền thống; họ sử dụng tốt hơn cơ sở hạ tầng tài chính, con người và công nghệ của mình và phân bổ chi phí; họ cải thiện kiến thức về lượng khách hàng tiềm năng; họ buộc phải đổi mới, ví dụ các phương pháp phân tích tín dụng hoặc sử dụng công nghệ mới để tiếp cận những người bên ngoài hệ thống ngân hàng và họ có thể nâng cao danh tiếng của mình và tăng cường mối quan hệ với các cơ quan tài chính.

3. Một số vấn đề cần hoàn thiện về Luật Các tổ chức tín dụng

Trong cơ cấu kinh tế của quốc gia, hoạt động của các TCTD có vai trò trung gian tài chính quan trọng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua hệ thống các TCTD thực hiện chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm cung cấp nguồn vốn tín dụng và hệ thống thanh toán cho nền kinh tế… Các quy định liên quan đến hoạt động của các TCTD luôn được quan tâm, nghiên cứu và hoàn thiện. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện, còn một số bất cập cần phải được tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện giúp các TCTD kinh doanh có trách nhiệm hơn với các sản phẩm và dịch vụ của mình.

Thứ nhất, Luật Các TCTD năm 2024 cấm bán bảo hiểm không bắt buộc với cung ứng dịch vụ ngân hàng dưới mọi hình thức. Theo đó, khoản 5 Điều 15 Luật Các TCTD năm 2024 quy định hành vi bị nghiêm cấm đối với: “… TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, người quản lý, người điều hành, nhân viên của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gắn việc bán sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc với việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng dưới mọi hình thức”. Tuy nhiên, Luật chưa quy định rõ hành vi này là như thế nào. Trên thực tế, ngân hàng có thể “giới thiệu” các sản phẩm bảo hiểm họ đang cung cấp để đánh vào tâm lý khách hàng là luôn muốn được giải ngân nhanh chóng. Điều này dẫn đến bên vay sẽ tham gia một hợp đồng bảo hiểm tại ngân hàng đó. Vì vậy, quy định này nên có văn bản cụ thể hướng dẫn về việc quản lý, giám sát bán các sản phẩm bảo hiểm tại ngân hàng, cùng chế tài đi kèm khi các ngân hàng vi phạm. Đối với các trường hợp Luật Các TCTD năm 2024 cấm bán bảo hiểm, pháp luật cần quy định cụ thể cơ quan, tổ chức nào sẽ thực hiện việc thanh tra các ngân hàng trong lĩnh vực này. Hiện tại, Điều 207 Luật Các TCTD năm 2024 chỉ đề cập Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty con, công ty liên kết của TCTD theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Thứ hai, Điều 136 của Luật Các TCTD năm 2024 đã giảm giới hạn cấp tín dụng. Cụ thể, một ngân hàng có thể cho vay tối đa 10% tổng vốn tự có của ngân hàng đối với một khách hàng (Luật 2010 là 15%); và 15% đối với một nhóm khách hàng và người có liên quan (Luật 2010 là 25%). Việc siết chặt giới hạn này nhằm tăng cường an toàn hệ thống, giảm rủi ro tập trung cho các ngân hàng nhưng lại khiến các DNTN và hộ kinh doanh cá thể (HKDCT), đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SME), khó tiếp cận được các khoản vay lớn hơn từ một ngân hàng. Nếu SME có nhu cầu vốn cao, họ sẽ phải chia nhỏ khoản vay ra nhiều ngân hàng, gây phức tạp trong quản lý và tăng chi phí giao dịch. Quy định này dẫn đến sẽ có nhiều người vay vốn hơn so với cùng một tỉ lệ như trước đây và TCTD phải tiến hành việc thẩm định hồ sơ, thực hiện nhiều thủ tục cấp tín dụng hơn. Bên cạnh đó, điều này cũng ảnh hưởng tới việc tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp trong việc phục hồi và phát triển hoạt động kinh doanh, sản xuất của mình sau giai đoạn kinh tế khó khăn như hiện nay. Việc giảm tỉ lệ cấp tín dụng có thể trở thành rào cản cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, đặc biệt đối với các doanh nghiệp đang thực hiện các dự án lớn trong thời gian lâu dài. Do đó, từ thời điểm sau khi Luật Các TCTD năm 2024 có hiệu lực đến năm 2026 (thời điểm bắt đầu áp dụng việc giảm dần mức cấp tín dụng), các doanh nghiệp cần có những phương án đầu tư, kinh doanh giảm dần việc phụ thuộc mức cấp tín dụng của TCTD, đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng tốt nhất, Luật Các TCTD có thể quy định một tỷ lệ cao hơn cho vay đối với SME và hộ kinh doanh (ví dụ, duy trì mức 15% đối với một khách hàng và 25% đối với khách hàng và người có liên quan) hoặc cho phép các TCTD có các quy định nội bộ linh hoạt hơn trong giới hạn này dựa trên đánh giá rủi ro chặt chẽ. Theo đó, để đảm bảo cân bằng giữa an toàn hệ thống và nhu cầu tiếp cận vốn, cần xây dựng hướng dẫn chi tiết về việc phân loại rủi ro và áp dụng giới hạn cấp tín dụng theo từng nhóm khách hàng (trong đó có SME và hộ kinh doanh).

Thứ ba, về xử lý nợ xấu: Luật Các TCTD năm 2024 đã luật hóa nhiều nội dung của Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu, giúp các TCTD có cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo, được kỳ vọng sẽ khơi thông dòng vốn tín dụng. Đối với việc bán nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu Điều 196 của Luật quy định: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu công khai, minh bạch, theo quy định pháp luật. Giá bán khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ xấu. Đồng thời, khoản 1 Điều 198 của Luật quy định: Bên mua khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà tài sản bảo đảm của khoản nợ đó là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai được quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua. Tuy nhiên, Luật hiện hành không đề cập đến quyền thu giữ tài sản đảm bảo của TCTD (một quyền quan trọng được cho phép trong Nghị quyết số 42). Điều này có thể dẫn đến tình trạng người đi vay không phối hợp bàn giao tài sản đảm bảo, làm kéo dài quá trình xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo. Trong khi đó, quá trình xử lý tài sản đảm bảo sau khi Bản án có hiệu lực vẫn còn phức tạp và kéo dài, gây tốn kém. Điều này làm tăng rủi ro cho vay và khiến ngân hàng “ngại” khi cho vay các đối tượng có khả năng gặp rủi ro cao là DNTN và HKDCT.

Bổ sung quy định hoặc hướng dẫn khuyến khích các TCTD phát triển sản phẩm cho vay dựa trên uy tín, dòng tiền của SME và hộ kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có lịch sử tín dụng tốt trên CIC, thay vì chỉ dựa vào tài sản đảm bảo. Điều này có thể đi kèm với các quy định về trích lập dự phòng rủi ro phù hợp. Đồng thời thúc đẩy vai trò của các Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho SME, đưa ra các quy định cụ thể hơn về cơ chế bảo lãnh, tỷ lệ bảo lãnh, thủ tục và trách nhiệm của các bên liên quan để tăng tính hiệu quả của cơ chế này.

Thứ tư, vấn đề tài sản đảm bảo và phương án kinh doanh: (i) Dù Luật Các TCTD năm 2024 không trực tiếp quy định về tài sản đảm bảo, nhưng các TCTD vẫn áp dụng các tiêu chuẩn an toàn riêng của mình. Hầu hết các TCTD đều yêu cầu tài sản đảm bảo có giá trị cao, dễ thanh khoản. Đây là một điểm yếu cố hữu của DNNVV và HKDCT, do họ thường không có đủ tài sản có giá trị lớn để thế chấp; Luật TCTD tập trung vào việc quản lý hoạt động của TCTD và hệ thống, không đi sâu vào các tiêu chí thẩm định phương án kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên, trên thực tế, các TCTD yêu cầu DNTN và HKDCT phải có phương án kinh doanh khả thi, minh bạch về dòng tiền và khả năng trả nợ. Với quy mô nhỏ, thường xuyên biến động, nhiều DNTN và HKDCT khó xây dựng được phương án kinh doanh đủ thuyết phục.

Điều 123 và 124 Luật năm 2024 vẫn đặt nặng các quy định chung về điều kiện cấp tín dụng (khả năng tài chính, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, phương án sản xuất kinh doanh khả thi). Mặc dù không cấm các hình thức cho vay phi truyền thống, nhưng với sự thận trọng của ngân hàng, SME và hộ kinh doanh thường khó đáp ứng yêu cầu tài sản đảm bảo. Do đó, các văn bản dưới luật cần hướng dẫn chi tiết hơn về việc chấp nhận các loại tài sản đảm bảo khác ngoài bất động sản truyền thống, như tài sản hình thành từ vốn vay, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (các khoản phải thu, hợp đồng mua bán), máy móc, thiết bị, hàng tồn kho…

4. Kết luận

            Luật Các TCTD năm 2024 được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, nội dung Luật có nhiều điểm mới tích cực, tuy nhiên vẫn còn những điểm hạn chế cần được tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện góp phần đảm bảo hoạt động tài chính của các TCTD phát triển lành mạnh, ổn định và tăng cường trách nhiệm xã hội của các TCTD đối với doanh nghiệp và người dân.

 

Tài liệu tham khảo:

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024). Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.

Vũ Lê Minh (2025). Tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý về Tín dụng và Đấu thầu để giúp kinh tế tư nhân phát triển. Truy cập tại https://phaply.net.vn/thao-go-nhung-diem-nghen-phap-ly-ve-tin-dung-va-dau-thau-de-giup-kinh-te-tu-nhan-phat-trien-a260264.html.

Argandona A. (1995). The Treatment of Ethical Problems in Financial Institutions and Markets’, in A. Argandona (ed.), The Ethical Dimension of Financial Institutions and Markets (Springer, Berlin), pp. 1-26.

Argandona A. (2006). From Ethical Responsibility to Corporate Social Responsibility. Presented at the 6th International Symposium on Catholic Social Thought and Management Education ‘‘The Good Company. Catholic Social Thought and Corporate Social Responsibility in Dialogue’’, Rome, 5-7 October.

De la Cuesta-González M., M. J. Mun˜oz-Torres and M. A. Ferna´ndez-Izquierdo (2006). Analysis of Social Performance in the Spanish Financial Industry Through Public Data. A Proposal. Journal of Business Ethicsm, 69(3), 289-304.

Ghatak M., & Guinnane T. W. (1999). The economics of lending with joint liability: theory and practice. Journal of development economics60(1), 195-228.

Prior F. and A. Argandona (2007). Credit Accessibility and Corporate Social Responsibility in Financial Institutions: The Case of Microfinance. Presented at the EBEN Research Conference 2007, ‘‘Finance and Society in Ethical Perspective’’, Bergamo, 21-23 June.

 

Enhancing the Law on Credit Institutions to promote responsible business practices

Tran Ngoc Diep Ha Giang

State Bank of Vietnam - Region 13 Branch

Abstract:

The Law on Credit Institutions 2024, effective from July 1, 2024, has been revised to align with the requirements of Vietnam’s economic integration and development process. Despite these advancements, several provisions require further improvement to ensure effective implementation. Key issues include the regulation of insurance sales tied to loan agreements, the reassessment of tightened credit limits that may affect business access to capital, and the handling of non-performing loans and collateralized assets. In addition, the appraisal of customer collateral should be strengthened to promote greater social responsibility among credit institutions toward the community. This study analyzes these shortcomings and proposes recommendations to enhance the effectiveness, transparency, and sustainability of the credit institution system under the new legal framework.

Keywords: credit institutions, responsible business, social responsibility.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 29/2025]