Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Bài báo nghiên cứu "Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh" do Lư Mỹ Duyên (Học viên cao học, Trường Đại Học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện.
Tóm tắt:
Trong bối cảnh cải cách tài chính công đang được đẩy mạnh, đặc biệt là chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) ngày càng giữ vai trò then chốt trong quản lý, sử dụng hiệu quả và minh bạch các nguồn lực công. Đặc biệt, việc chuyển đổi sang chế độ kế toán mới theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC, cùng với việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) và đẩy mạnh chuyển đổi số đã làm gia tăng yêu cầu đối với công tác tổ chức kế toán. Trung tâm Giám định Y khoa TP. Hồ Chí Minh, với chuyên môn đặc thù và quá trình sáp nhập các đơn vị trực thuộc, đang đối mặt với nhiều khó khăn trong tổ chức bộ máy kế toán và vận dụng chế độ mới. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết nhằm phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: công tác kế toán, giám định y khoa, tự chủ tài chính, đơn vị hành chính sự nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các ĐVSNCL lĩnh vực y tế, tổ chức công tác kế toán giữ vai trò quan trọng trong việc ghi nhận, kiểm soát và cung cấp thông tin tài chính phục vụ quản lý. Khi quy mô hoạt động mở rộng và phạm vi quản lý trải dài trên nhiều cơ sở, yêu cầu đối với tổ chức bộ máy kế toán, luân chuyển chứng từ và kiểm soát kế toán ngày càng trở nên phức tạp.

Trung tâm Giám định y khoa TP. Hồ Chí Minh là ĐVSNCL trực thuộc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, hoạt động theo mô hình đa cơ sở sau khi hợp nhất các trung tâm giám định y khoa tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau hợp nhất, công tác kế toán không còn vận hành theo mô hình tập trung thuần túy mà phải xử lý các nghiệp vụ phát sinh tại nhiều cơ sở trực thuộc, đặt ra yêu cầu cao về phân công nhiệm vụ, luân chuyển và kiểm soát chứng từ, cũng như tổng hợp số liệu toàn Trung tâm.

Bên cạnh đó, việc áp dụng chế độ kế toán HCSN mới theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC làm thay đổi hệ thống tài khoản, phương pháp hạch toán và báo cáo theo từng nguồn kinh phí. Trong bối cảnh vừa hợp nhất, đơn vị vừa chuyển đổi chế độ kế toán, công tác tổ chức kế toán tại Trung tâm phát sinh nhiều khó khăn về tổ chức bộ máy, chuẩn hóa quy trình và đảm bảo tính thống nhất của số liệu. Xuất phát từ thực tiễn đó, bằng phương pháp định tính được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12/2025, bài viết phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Giám định y khoa TP. Hồ Chí Minh và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính trong điều kiện mới.

2. Cơ sở lý thuyết

Theo Luật Kế toán năm 2015, tổ chức công tác kế toán là việc bố trí và triển khai các chế độ, chuẩn mực và quy trình kế toán nhằm phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị; đồng thời tổ chức kiểm tra việc bảo quản, lưu trữ và cung cấp thông tin, tài liệu kế toán cho các đối tượng sử dụng theo quy định (Quốc hội, 2015). Khái niệm này nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ pháp lý, tính thống nhất và trách nhiệm giải trình trong hoạt động kế toán của các đơn vị khu vực công.

Trên cơ sở đó, có thể hiểu tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSNCL là việc thiết lập và vận hành một hệ thống kế toán đồng bộ, phù hợp với đặc điểm hoạt động và mô hình tổ chức của đơn vị. Nội dung tổ chức công tác kế toán bao gồm: tổ chức bộ máy kế toán; tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán; tổ chức công tác lập và chấp hành dự toán; tổ chức hệ thống báo cáo kế toán; tổ chức kiểm tra, kiểm soát và công khai tài chính; và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong kế toán.

Về mô hình tổ chức, công tác kế toán tại ĐVSNCL có thể được tổ chức theo mô hình tập trung, phân tán hoặc kết hợp. Trong điều kiện các đơn vị được sắp xếp, hợp nhất và hoạt động theo mô hình đa cơ sở, mô hình kế toán kết hợp thường được xem là phù hợp hơn. Theo đó, các đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ thu thập, lập và luân chuyển chứng từ ban đầu theo quy định, trong khi công tác hạch toán, tổng hợp số liệu và lập báo cáo tài chính (BCTC) được tập trung tại đơn vị đầu mối. Mô hình này cho phép vừa bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát tập trung của hệ thống kế toán, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý đối với các hoạt động phát sinh tại nhiều cơ sở.

3. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh

3.1. Những mặt đạt được

Thứ nhất, bộ máy kế toán tại Trung tâm được tổ chức theo hướng tập trung, gọn nhẹ và đảm bảo đầy đủ các phần hành kế toán cơ bản. Việc phân công nhiệm vụ giữa các kế toán viên được thực hiện tương đối rõ ràng, phù hợp với chức năng và chuyên môn, góp phần duy trì tính liên tục trong xử lý nghiệp vụ và đáp ứng yêu cầu báo cáo theo quy định. Trong giai đoạn trước hợp nhất, mô hình tổ chức này cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính tại đơn vị. Khi thực hiện hợp nhất các cơ sở trực thuộc, bộ máy kế toán tiếp tục duy trì hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ kế toán phát sinh, tạo cơ sở để Trung tâm từng bước ổn định công tác tài chính trong giai đoạn chuyển đổi.

Thứ hai, công tác lập và chấp hành dự toán được thực hiện tương đối chặt chẽ, khoa học. Dự toán được xây dựng sát với nhu cầu thực tế, tuân thủ quy định và là cơ sở quan trọng để kiểm soát chi tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị.

Thứ ba, hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán được tổ chức đồng bộ, tuân thủ chế độ kế toán hiện hành, đặc biệt là việc mở tài khoản chi tiết theo từng nguồn kinh phí theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC, giúp tăng cường tính minh bạch và thuận tiện cho công tác quản lý tài chính.

Thứ tư, công tác lập và trình bày báo cáo kế toán được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đảm bảo yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý và trách nhiệm giải trình, kể cả trong giai đoạn chuyển đổi chế độ kế toán và hợp nhất đơn vị.

Thứ năm, hoạt động kiểm tra, công khai tài chính được thực hiện đúng quy định, đồng thời ứng dụng CNTT trong kế toán được chú trọng, giúp nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin. Việc triển khai phần mềm kế toán online và quản lý chứng từ điện tử giúp số liệu được cập nhật kịp thời, thuận tiện cho kiểm tra, đối chiếu và tổng hợp BCTC.

3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3.2.1. Hạn chế

Thứ nhất, bộ máy kế toán được tổ chức gọn nhẹ nên số lượng nhân sự còn hạn chế, mỗi kế toán viên phải kiêm nhiệm nhiều phần hành. Trong các giai đoạn cao điểm hoặc khi phát sinh nhiệm vụ mới sau hợp nhất, khối lượng công việc tăng nhanh, khiến gia tăng áp lực và hạn chế khả năng hỗ trợ lẫn nhau giữa các phần hành.

Thứ hai, trong giai đoạn đầu sau hợp nhất, một số dự toán chưa phản ánh sát thực tế, do phát sinh các khoản thu lẫn khoản chi mới. Do đó, khả năng dự báo và điều chỉnh dự toán còn hạn chế, khiến Trung tâm chưa chủ động hoàn toàn trong quản lý tài chính khi có biến động ngoài kế hoạch.

Thứ ba, việc chuyển đổi sang chế độ kế toán mới theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC còn gặp khó khăn trong giai đoạn đầu triển khai. Một số kế toán viên chưa thật sự nắm vững quy định và cách vận dụng hệ thống tài khoản chi tiết theo từng nguồn kinh phí, dẫn đến việc ghi chép thủ công song song với phần mềm, làm tăng khối lượng công việc.

Thứ tư, trong giai đoạn hợp nhất các cơ sở, số liệu kế toán chưa đồng bộ hoàn toàn, khiến quá trình tổng hợp và lập BCTC mất nhiều thời gian, làm giảm tính kịp thời của thông tin cung cấp cho quản lý.

Thứ năm, công tác kiểm tra và công khai tài chính còn hạn chế về hình thức, tần suất và phạm vi; một số nghiệp vụ chưa được kiểm tra thường xuyên. Việc ứng dụng CNTT tuy có cải tiến, nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào hạ tầng kỹ thuật và chi phí vận hành, đồng thời một số tính năng nâng cao của phần mềm chưa được khai thác triệt để, dẫn đến dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn.

3.2.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan chủ yếu xuất phát từ những thay đổi về cơ chế, chính sách và bối cảnh tổ chức. Việc chuyển đổi từ Thông tư số 107/2017/TT-BTC sang Thông tư số 24/2024/TT-BTC với nhiều điểm mới về hệ thống tài khoản, phương pháp hạch toán và mẫu biểu báo cáo đã tạo áp lực lớn cho công tác kế toán trong giai đoạn đầu triển khai, trong khi hoạt động tập huấn, hướng dẫn chưa thực sự đồng bộ và kịp thời. Bên cạnh đó, quá trình hợp nhất các cơ sở với sự khác biệt về phương thức quản lý và lưu trữ số liệu khiến gia tăng khối lượng công việc đối chiếu, chuẩn hóa dữ liệu, ảnh hưởng đến tiến độ lập BCTC. Ngoài ra, cơ chế giao và phê duyệt kinh phí còn mang tính khung, ít linh hoạt, khiến việc lập và điều chỉnh dự toán chưa theo kịp biến động thực tế sau hợp nhất.

Nguyên nhân chủ quan chủ yếu liên quan đến nguồn lực và tổ chức thực hiện. Bộ máy kế toán được tổ chức gọn nhẹ, nhân sự hạn chế, phải kiêm nhiệm nhiều phần hành, dẫn đến tình trạng quá tải trong các giai đoạn cao điểm. Công tác kiểm tra, giám sát nội bộ chưa được thực hiện thường xuyên do thiếu nhân lực chuyên trách, nên giảm tính chủ động trong kiểm soát sai sót. Bên cạnh đó, việc ứng dụng phần mềm kế toán online còn phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật và chi phí vận hành.

4. Các giải pháp và đề xuất tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh

4.1. Các giải pháp

Một là, hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán theo hướng linh hoạt và phù hợp với mô hình Trung tâm có nhiều cơ sở trực thuộc. Cần rà soát, điều chỉnh phân công nhiệm vụ giữa các phần hành, tăng cường hỗ trợ nhân sự trong các giai đoạn cao điểm và làm rõ trách nhiệm thực hiện, phối hợp, kiểm tra đối với từng nghiệp vụ. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, cập nhật kịp thời các quy định mới về tài chính - kế toán cho đội ngũ kế toán viên.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác lập và chấp hành dự toán thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu dự toán sát thực tế, bao gồm các khoản thu và chi mới phát sinh sau hợp nhất. Việc lập dự toán cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận kế toán và các bộ phận chuyên môn, đồng thời tăng cường rà soát, đánh giá tình hình thực hiện theo định kỳ để kịp thời đề xuất điều chỉnh khi có biến động.

Ba là, chuẩn hóa hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán theo quy định của Thông tư số 24/2024/TT-BTC. Thống nhất quy trình luân chuyển, lưu trữ chứng từ; mở tài khoản chi tiết theo từng cơ sở và từng nguồn kinh phí; hướng dẫn xử lý các nghiệp vụ giao thoa giữa nguồn tự chủ và không tự chủ, đồng thời giảm dần các thao tác ghi chép thủ công nhằm nâng cao hiệu quả và tính chính xác.

Bốn là, hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo kế toán bằng việc xây dựng quy trình hợp nhất số liệu rõ ràng, thống nhất biểu mẫu và thời hạn báo cáo nội bộ, tăng cường đối chiếu, kiểm tra chéo trước khi lập BCTC.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra và công khai tài chính bằng cách mở rộng phạm vi kiểm tra, xây dựng quy trình kiểm tra nội bộ định kỳ. Đồng thời, hoàn thiện ứng dụng CNTT theo lộ trình phù hợp, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, hướng dẫn nhân sự khai thác triệt để các tính năng của phần mềm và quản lý chi phí vận hành hiệu quả.

4.2. Kiến nghị

Đối với cơ quan quản lý cấp trên, cần tăng cường tập huấn và ban hành hướng dẫn thống nhất về việc áp dụng Thông tư số 24/2024/TT-BTC, đặc biệt là công tác kế toán hợp nhất số liệu sau sáp nhập; đồng thời xem xét điều chỉnh mức thu phí giám định y khoa theo quy định tại Thông tư số 243/2016/TT-BTC, vốn đã được ban hành từ lâu và chưa phản ánh chính xác chi phí thực tế, nhằm tạo thuận lợi cho Trung tâm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.

Đối với Trung tâm, cần rà soát, bố trí lại nhân sự kế toán phù hợp với quy mô sau hợp nhất; tăng cường kiểm soát nội bộ, công khai tài chính và đầu tư hạ tầng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong điều kiện chuyển đổi số.

5. Kết luận

Trong bối cảnh các ĐVSNCL lĩnh vực y tế đang đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi số, việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công.

 

Tài liệu tham khảo:

Bộ Tài chính (2016). Thông tư số 243/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy giám định y khoa. Hà Nội: Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính (2017). Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Hà Nội: Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính (2024). Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Hà Nội: Bộ Tài chính.

Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021). Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Hà Nội: Chính phủ.

Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015). Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015. Hà Nội: Văn phòng Quốc hội.

 

Enhancing the organization of accounting practices at the Ho Chi Minh City Medical Examination Center

LU MY DUYEN

Master’s student, Ho Chi Minh City University of Economics and Finance

 Abstract:

In the context of accelerating public financial reform, particularly the transition toward financial autonomy, accounting work in public service delivery units plays an increasingly critical role in ensuring the efficient, effective, and transparent management of public resources. The implementation of the new public sector accounting regime under Circular No. 24/2024/TT-BTC, together with the restructuring and consolidation of public administrative and service units and the promotion of digital transformation, has significantly increased the requirements for accounting organization. The Ho Chi Minh City Medical Examiner’s Center, with its specialized functions and recent consolidation of affiliated units, is facing various challenges in organizing its accounting system and applying the new accounting regulations. Therefore, this study aims to analyze the current state of accounting organization at the Center and propose solutions to improve the organization of accounting work in the current period.

Keywords: accounting practices, medical assessment, financial autonomy, administrative and public service units.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 3/2026]