Kế toán hoạt động kinh doanh bất động sản theo hệ thống kế toán Trung Quốc và Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

ThS. PHẠM THANH HƯƠNG (Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Thương mại)

TÓM TẮT:

Bài viết này tập trung nghiên cứu bản chất hoạt động kinh doanh bất động sản, kế toán hoạt động kinh doanh bất động sản tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong nền kinh tế thị trường hiện nay tại Việt Nam. Tác giả lựa chọn Trung Quốc - một trong những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, một thị trường lớn mang đầy đủ đặc điểm của một thị trường mới nổi, đang phát triển, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam làm điển hình để nghiên cứu kế toán hoạt động kinh doanh bất động sản. Từ đó, tác giả đề xuất bài học kinh nghiệm cho kế toán hoạt động kinh doanh bất động sản tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tại Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Kế toán hoạt động, kinh doanh bất động sản, Trung Quốc, Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, thị trường kinh doanh bất động sản nước ta đã có những chuyển biến tích cực, góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển với nhịp độ tương đối cao. Cùng với nhịp độ phát triển của nền kinh tế, với xu hướng hội nhập, hợp tác quốc tế, các hoạt động kinh doanh bất động sản (HĐKDBĐS) ngày càng đa dạng và phát triển. Tuy nhiên, kinh doanh bất động sản (KDBĐS) là một lĩnh vực đòi hỏi một nguồn vốn lớn mà thường chỉ có các doanh nghiệp lớn mới đáp ứng được. Hoạt động này mang lại một nguồn lợi nhuận khổng lồ nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Có thể nói, đầu tư vào bất động sản đang đứng trước những cơ hội và thách thức, mang lại hiệu quả hết sức lớn lao, nâng cao chất lượng cuộc sống, song cũng có thể mang lại sự suy thoái, khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa, thị trường KDBĐS Việt Nam bị đánh giá là thiếu minh bạch. Diễn biến khó dự đoán của thị trường cũng đã khiến cho các nhà đầu tư gặp phải khó khăn trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào bất động sản, nhất là hiện nay, khi những kênh thông tin chính thống về thị trường này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin của nhà đầu tư cũng như của các doanh nghiệp.

Điều đó đòi hỏi phải đổi mới hệ thống các công cụ quản lý, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công tác kế toán tại các doanh nghiệp, một công cụ quản lý quan trọng và hữu hiệu của doanh nghiệp. Với việc ban hành hệ thống các chuẩn mực kế toán, việc cải tiến đổi mới chế độ kế toán đã tạo cơ sở pháp lý giúp các doanh nghiệp từng bước nâng cao chất lượng công tác kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế. Tuy nhiên, trong sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của nền kinh tế, với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngày càng có nhiều vấn đề mới phức tạp nảy sinh từ thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và vấn đề KDBĐS nói riêng. Công tác kế toán tại các doanh nghiệp còn nhiều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan tâm đến thông tin kế toán của doanh nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài viết này tập trung nghiên cứu bản chất hoạt động KDBĐS, kế toán hoạt động KDBĐS, lựa chọn Trung Quốc một trong những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi là điển hình để nghiên cứu kế toán hoạt động KDBĐS từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm cho kế toán KDBĐS cho các doanh nghiệp KDBĐS Việt Nam.

2. Bản chất hoạt động kinh doanh bất động sản trong doanh nghiệp

Tại điều 4, đoạn 16 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 số 68/2014/QH13: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Đồng thời, theo quy định tại điều 3 của Luật Kinh doanh bất động sản hiện hành số 66/2014/QH13 quy định: “Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua BĐS; thực hiện dịch vụ môi giới BĐS; dịch vụ sàn giao dịch BĐS; dịch vụ tư vấn BĐS hoặc quản lý BĐS nhằm mục đích sinh lợi”.

Như vậy, hoạt động kinh doanh bất động sản có thể chia thành hai hoạt động kinh doanh chính:

(1) Hoạt động KDBĐS bao gồm từ việc bỏ vốn đầu tư xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, thuê, cho thuê lại, thuê mua bất động sản nhằm mục đích sinh lợi.

(2) Hoạt động kinh doanh dịch vụ BĐS là các hoạt động hỗ trợ KDBĐS và thị trường BĐS, bao gồm các dịch vụ môi giới BĐS, định giá BĐS, sàn giao dịch BĐS, tư vấn BĐS, đấu giá BĐS, quảng cáo BĐS, quản lý BĐS.

Cũng theo Điều 5, Luật Kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 quy định các loại bất động sản (BĐS) được đưa vào kinh doanh bao gồm: Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân; Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân; Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh; Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất. Trong doanh nghiệp, BĐS tồn tại dưới ba hình thức là BĐS chủ sở hữu sử dụng, BĐS tồn kho và BĐSĐT. Căn cứ vào quy định về KDBĐS, trong ba loại BĐS trên, BĐS chủ sở hữu sử dụng không thuộc đối tượng kinh doanh trong doanh nghiệp. Bởi vì xuất phát từ mục đích BĐS chủ sở hữu sử dụng chỉ dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp hoặc dùng cho các mục đích phục vụ quản lý, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp.

Vậy, theo quan điểm của tác giả: “Bản chất của hoạt động kinh doanh bất động sản trong doanh nghiệp chính là đầu tư vốn và thu lợi từ việc kinh doanh bất động sản tồn kho, bất động sản đầu tư, và các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản”.

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, các nghiên cứu tiếp theo tác giả tập trung vào nghiên cứu nội dung HĐKDBĐS trên góc độ kinh doanh hai đối tượng BĐS trong doanh nghiệp là BĐS tồn kho và BĐSĐT bao gồm từ việc nhận, bàn giao BĐS doanh nghiệp xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, thuê, cho thuê lại BĐS nhằm mục đích sinh lợi.

3. Kế toán hoạt động kinh doanh bất động sản theo hệ thống kế toán Trung Quốc

Trong những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, Trung Quốc là một điển hình để nghiên cứu. Đây là một thị trường lớn mang đầy đủ đặc điểm của một thị trường mới nổi, đang phát triển. Đồng thời, nền kinh tế Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Do vậy, việc tham khảo kế toán HĐKDBĐS của Trung Quốc cũng là cơ sở để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Trung Quốc có hai hệ thống kế toán cùng song song tồn tại và chi phối đến kế toán HĐKDBĐS trong các doanh nghiệp. Cả hai hệ thống này đều do Bộ Tài chính ban hành đó là:

(1) Hệ thống kế toán dành cho các doanh nghiệp kinh doanh (The Accounting System for Business Enterprises - ASBE) bao gồm 16 chuẩn mực kế toán và các hướng dẫn chuẩn mực.

(2) Hệ thống chuẩn mực kế toán cho doanh nghiệp kinh doanh (The Accounting Standards for Business Enterprises (2006) - CAS 2006) và các hướng dẫn chuẩn mực.

CAS 2006 do Bộ Tài chính Trung Quốc ban hành vào ngày 15/2/2006, có hiệu lực từ ngày 01/1/2007 là một sự khẳng định quá trình hòa hợp giữa hệ thống kế toán Trung Quốc và thế giới. CAS 2006 ra đời là sẽ thay thế dần ASBE theo một lộ trình phù hợp. Đầu tiên, tất cả các công ty niêm yết, các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư bắt buộc phải tuân thủ CAS 2006 từ ngày 01/01/2007. Sau đó đến các loại hình công ty khác như các doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn, các ngân hàng,... bắt buộc phải tuân thủ theo lộ trình cụ thể. Như vậy, mục đích của Trung Quốc sẽ dần thay thế ASBE và CAS 2006 trong tương lai gần sẽ là hệ thống chuẩn mực kế toán duy nhất cho các loại hình doanh nghiệp, ngoại trừ những doanh nghiệp nhỏ (Các chuẩn mực kế toán cho DN nhỏ (ASSE) do Bộ Tài chính Trung Quốc ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/1/2013).

Cho đến nay, hầu hết các doanh nghiệp KDBĐS tại Trung Quốc đều áp dụng CAS 2006. Về cơ bản, việc chuyển đổi CAS 2006 gần với IFRS nhưng hệ thống chuẩn mực này không phải dịch lại IFRS mặc dù vẫn dựa trên nền tảng, nguyên tắc cơ bản. Nhìn chung, CAS 2006 tuân thủ hầu hết các nguyên tắc kế toán theo IFRS. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những sự khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực này.

Kế toán HĐKDBĐS tại các doanh nghiệp Trung Quốc như sau:

(1) Về ghi nhận BĐS

Ghi nhận BĐS tồn kho:

Các doanh nghiệp Trung Quốc ghi nhận BĐS tồn kho khi BĐS đó dự định để bán hoặc đang trong quá trình xây dựng để bán trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường.

Ghi nhận BĐSĐT:

Tại các doanh nghiệp “Khi một BĐS được ghi nhận là BĐSĐT phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Có nhiều khả năng đơn vị sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ BĐSĐT và giá gốc của BĐSĐT được xác định một cách đáng tin cậy”(CAS 3 - BĐSĐT).

Kế toán BĐSĐT tại các doanh nghiệp Trung Quốc về cơ bản là giống quy định của IAS 40 - Bất động sản đầu tư. Tuy nhiên, có một số điểm khác như sau:

+ Tại các doanh nghiệp, đối với trường hợp quyền sử dụng đất hoặc các tòa nhà đi thuê theo hợp đồng thuê hoạt động, khi doanh nghiệp cho thuê lại không được phân loại như một BĐSĐT.

+ Đối với trường hợp ghi nhận nhà do doanh nghiệp thuê tài chính và cho thuê theo hợp đồng thuê hoạt động, không có quy định ghi nhận trường hợp này là BĐSĐT.

+ Tại các doanh nghiệp Trung Quốc, kế toán BĐSĐT không quy định trường hợp đất nắm giữ mà chưa xác định rõ được mục đích sử dụng trong tương lai (nếu đơn vị chưa xác định rằng mình sẽ sử dụng đất như BĐS chủ sở hữu sử dụng hay là để bán trong kỳ kinh doanh thông thường được coi là nắm giữ chờ tăng giá) được ghi nhận là BĐSĐT.

(2) Về xác định giá trị BĐS

Xác định giá trị BĐS tồn kho

Quy định về xác định giá trị BĐS tồn kho tại các doanh nghiệp Trung Quốc như sau: “BĐS tồn kho được tính theo giá gốc, trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được”. (CAS 1 - Hàng tồn kho).

Xác định giá trị BĐSĐT

+ Xác định giá trị tại thời điểm ghi nhận ban đầu

Quy định về xác định giá trị BĐSĐT tại thời điểm ghi nhận ban đầu: “Một BĐSĐT phải được xác định giá trị ban đầu theo giá gốc”. Giá gốc của BĐSĐT bao gồm tất cả các chi phí liên quan trực tiếp ban đầu để hình thành BĐSĐT đó (CAS 3).

Giá gốc của BĐSĐT được mua bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp như chi phí giao dịch, chi phí dịch vụ tư vấn pháp luật, thuế trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.

+ Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu

Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp được lựa chọn mô hình giá gốc hoặc mô hình giá trị hợp lý (GTHL) để xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu của BĐSĐT. Theo kết quả nghiên cứu của Taplin Ross, Yuan Wei và Brown Alistair (2014), tại các doanh nghiệp KDBĐS Trung Quốc đang niêm yết tại thị trường chứng khoán quốc tế có xu hướng sử dụng kế toán theo GTHL nhiều hơn các doanh nghiệp đang niêm yết tại thị trường chứng khoán trong nước. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, yếu tố có sự ảnh hưởng của quốc tế tương quan chặt chẽ với việc lựa chọn sử dụng GTHL để kế toán BĐSĐT.

Tuy nhiên, CAS 3 hiện hành không hoàn toàn tuân thủ đầy đủ mô hình GTHL theo IAS 40 mà bổ sung vào những quy định phù hợp với môi trường kinh tế tại Trung Quốc. CAS 3 yêu cầu các đơn vị chỉ được lựa chọn mô hình GTHL khi và chỉ khi BĐSĐT có hoạt động giao dịch. CAS 3 quy định nếu doanh nghiệp chọn mô hình GTHL, doanh nghiệp đó phải thỏa mãn điều kiện là đưa ra được những bằng chứng tin cậy trong việc xác định GTHL của BĐS trên cơ sở hoạt động liên tục. Để xác định xem bằng chứng xác định GTHL của BĐSĐT là đáng tin cậy hay không, CAS 3 đưa ra hai điều kiện DN phải đồng thời thỏa mãn:

+ Có một thị trường BĐS hoạt động tại khu vực của BĐSĐT;

+ Doanh nghiệp có thể thu thập được từ thị trường BĐS giá của tài sản giống hoặc tương tự BĐS và các thông tin khác có liên quan để thực hiện một ước tính phù hợp cho GTHL của BĐSĐT.

(3) Về ghi nhận doanh thu hoạt động KDBĐS

Ghi nhận doanh thu BĐS tồn kho

Doanh nghiệp Trung Quốc khi ghi nhận doanh thu bán BĐS tồn kho phải thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện ghi nhận doanh thu. 5 điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy định của CAS 14 giống quy định tại IAS 18.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính Trung Quốc đã đưa ra các quy định cụ thể hướng dẫn về các trường hợp ghi nhận HĐKDBĐS theo CAS 14 - doanh thu. Theo Giải thích số 3 (Caikuai 3) của CAS 2006, nếu người mua BĐS có thể tác động trực tiếp đến thiết kế BĐS trước khi thi công, hoặc có quyền quyết định thay đổi cấu trúc trong quá trình xây dựng, thì trường hợp này, các doanh nghiệp BĐS ghi nhận doanh thu tuân thủ CAS 15 - Hợp đồng xây dựng. Nếu trường hợp người mua tài sản không có quyền tham gia thiết kế BĐS, ví dụ, họ chỉ có thể thực hiện thay đổi nhỏ đối với thiết kế BĐS. Các DNKDBĐS ghi nhận doanh thu trong trường hợp này theo CAS 14 - doanh thu.

Ghi nhận doanh thu BĐSĐT

Doanh thu BĐSĐT được ghi nhận theo quy định của CAS 2006 bao gồm doanh thu từ hoạt động cho thuê BĐSĐT và doanh thu từ hoạt động bán, thanh lý BĐSĐT. Doanh thu cung cấp dịch vụ cho thuê BĐSĐT được quy định tại CAS 14 - doanh thu và phải thỏa mãn, đồng thời 4 điều kiện ghi nhận doanh thu giống như quy định tại IAS 18 - doanh thu.

(4) Trình bày BCTC

Về trình bày trên BCTC các chỉ tiêu liên quan đến KDBĐS, các yêu cầu trình bày thông tin giữa CAS 2006 và IFRS trên các chuẩn mực liên quan tương tự nhau. Tuy nhiên, đối với quy định về trình bày thông tin về hoạt động KDBĐSĐT, CAS 3 quy định có một số điểm khác biệt như sau:

Yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày các thông tin sau đối với BĐSĐT:

Loại BĐSĐT, số lượng BĐSĐT và nêu rõ doanh nghiệp áp dụng mô hình GTHL hay mô hình giá gốc;

Nếu trường hợp doanh nghiệp áp dụng mô hình giá gốc, doanh nghiệp phải trình bày khấu hao, giá trị hao mòn lũy kế của BĐS và các khoản lỗ do tồn thất tài sản lũy kế;

Nếu trường hợp doanh nghiệp áp dụng mô hình GTHL, doanh nghiệp phải trình bày cơ sở và phương pháp áp dụng trong việc xác định GTHL của BĐSĐT, trình bày lãi và lỗ từ việc điều chỉnh GTHL của BĐSĐT.

Doanh nghiệp trình bày các trường hợp và lý do cho việc chuyển đổi BĐSĐT và sự ảnh hưởng lên báo cáo lãi, lỗ và vốn chủ sở hữu;

Thanh lý BĐSĐT và sự ảnh hưởng đến báo cáo lãi, lỗ.

4. Bài học kinh nghiệm trong kế toán hoạt động kinh doanh BĐS đối với các doanh nghiệp Việt Nam

+ Về xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu BĐS

Mặc dù chuẩn mực CAS 3 - BĐSĐT của Trung Quốc tương đối hòa hợp với IAS 40 - BĐSĐT nhưng đối với quy định về việc xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu của BĐSĐT ghi nhận theo mô hình GTHL, CAS 2006 có những điều chỉnh về quy định áp dụng mô hình GTHL trong điều kiện nền kinh tế hiện tại tại quốc gia này. Mặt khác, để giúp các doanh nghiệp KDBĐS có căn cứ cụ thể để xác định GTHL của BĐSĐT, Bộ Tài chính Trung Quốc đã ban hành các hướng dẫn chuẩn mực, các văn bản giải thích chuẩn mực CAS 3 - BĐSĐT. Có thể thấy đây là kinh nghiệm Việt Nam nên xem xét, bởi vì nó đã đáp ứng được các yêu cầu đặt ra đối với hệ thống kế toán Trung Quốc vừa đảm bảo xu thế toàn cầu hóa, vừa đảm bảo những yêu cầu riêng của nền kinh tế cũng như sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, đối với trường hợp các doanh nghiệp KDBĐS vẫn lựa chọn mô hình giá gốc để ghi nhận hoạt động kinh doanh BĐSĐT thì CAS 2006 quy định những doanh nghiệp này hàng năm phải xem xét có dấu hiệu nào cho thấy BĐSĐT có thể bị giảm giá trị không. Nếu có, doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng giảm giá trị để ước tính giá trị có thể thu hồi của BĐSĐT đó. Doanh nghiệp cần kiểm tra dấu hiệu giảm giá trị BĐSĐT theo các nguyên nhân từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Nếu giá trị ghi sổ của tài sản cao hơn giá trị có thể thu hồi thì tài sản đã bị giảm giá thì kế toán phải ghi nhận là khoản lỗ do giảm giá BĐSĐT. Đây cũng là một kinh nghiệm cần xem xét để nhằm hạn chế những nhược điểm của mô hình giá gốc trong trường hợp tại Việt Nam chưa có một thị trường hoạt động hoàn chỉnh đáp ứng cho việc sử dụng mô hình GTHL.

+ Về ghi nhận doanh thu HĐKDBĐS

Bên cạnh đó, có thể học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc đưa ra các quy định cụ thể hướng dẫn về các trường hợp phân biện ghi nhận doanh thu HĐKDBĐS theo các trường hợp phát sinh thực tế trong quá trình đầu tư, xây dựng BĐS theo CAS 14 - doanh thu hay theo CAS 15 - Hợp đồng xây dựng.

+ Về trình bày báo cáo tài chính

Về trình bày báo cáo tài chính HĐKDBĐS, doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc - CAS 2006 về trình bày báo cáo tài chính HĐKDBĐS. Mặc dù CAS 1 - Hàng tồn kho, CAS 3 - BĐSĐT, CAS 14 - Doanh thu gần như tiến tới hòa hợp với quy định của IFRS. Đối với việc trình bày HĐKDBĐS tồn kho, quy định của CAS 2006 kế thừa toàn bộ quy định của IFRS. Đối với việc trình bày hoạt động BĐSĐT CAS 3 quy định ngắn gọn hơn IAS 40 về việc trình bày HĐKDBĐSĐT nhưng đồng thời cũng phản ảnh đầy đủ HĐKDBĐSĐT trong doanh nghiệp. Điều này cũng là một kinh nghiệm Việt Nam có thể xem xét trong điều kiện VAS đang tiến tới việc hòa hợp với IFRS.

5. Kết luận

Kế toán HĐKDBĐS trong các doanh nghiệp KDBĐS Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế đang còn nhiều vướng mắc. Tác giả đã nghiên cứu bản chất HĐKDBĐS trong doanh nghiệp, nghiên cứu về việc vận dụng thực tiễn về kế toán HĐKDBĐS tại Trung Quốc so sánh với kế toán HĐKDBĐS theo quy định của hệ thống chuẩn mực quốc tế, từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm về kế toán HĐKDBĐS cho các doanh nghiệp Việt Nam. Những ý tưởng đề xuất về vấn đề này là những quan điểm cá nhân nhằm hướng tới giải quyết vấn đề khoa học và hợp lý hơn, phù hợp với bản chất của đối tượng và nguyên tắc ghi nhận và trình bày thông tin về hoạt động KDBĐS trên báo cáo tài chính.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Chen Chen, Kin Lo, Desmon Tsang and Jing Zhang, Earnings management, firm location, and financial reporting choice (2013): An analysis of fair value reporting for investment properties in emerging market. 04/2013.

2. Deloltte (2006), Chinas new Accounting Standards.

3. Jeffrey Kantor, (2005) "The development of quality management accounting practices in China",Managerial Auditing Journal, Vol. 20 Iss: 7).

4. Ministry of Finance of the Peoples Republic of China (2006), The Accounting Standards for Business Enterprises (2006) - CAS 2006.

5. Grant Thornton International Ltd (2011), IFRS News Special Edition October, United Kingdom.

6. Taplin, Ross, Yuan Wei and Brown, Alistair (2014) “The Use of Fair Value and Historical Cost Accounting for Investment Properties in China”, Australasian Accounting, Business and Finance Journal”, volume 8(1), 2014, 101-113.

7. Xiaoming Li (2006), "Convergence of China GAAP to IAS", Journal of modern accounting an Auditing, Feb, 2006, Vol.2, P12-16.

8. Xiaosong Zheng Management Accounting Practices in China: Current Key Problems and Solutions, Socialiniai tyrimai / Social Research. 2012. Nr. 4 (29).

ACCOUNTING REAL ESTATE BUSINESS IN

ACCORDANCE WITH CHINESE ACCOUNTING SYSTEM

LESSONS LEARNED FOR VIETNAM

MA. PHAM THANH HUONG

Faculty of Accounting and Auditing - Thuong mai University

ABSTRACT:

This article focuses on the nature of the accounting for real estate business in the current Vietnamese market economy. The author selected China as one of the economies in transition that has many similarities with Vietnam in term of economic developement. From that, we will propose suggestions for real estate business accounting at real estate businesses in Vietnam.

Keywords: Accountant, real estate business, China, Vietnam.

Xem tất cả ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 06 tháng 05/2017 tại đây