Tóm tắt:
Hiện nay, ngành thuế Việt Nam đang tiến hành tái thiết với phương châm lấy quản lý rủi ro làm nền tảng kết hợp đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, sự đổi mới nhanh chóng đặt ra yêu cầu xây dựng một khung pháp lý toàn diện để quản lý hiệu quả và đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể nộp thuế. Bài viết nghiên cứu điểm nổi bật trong khung pháp lý của từng quốc gia khi ứng dựng trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro thuế, từ đó tiếp thu và rút ra bài học cho Việt Nam.
Từ khóa: Quản lý rủi ro, thuế, quản lý thuế, trí tuệ nhân tạo.
1. Đặt vấn đề
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang trở thành đề tài nóng hơn bao giờ hết trên toàn cầu. Tuy nhiên, dù mang đến nhiều lợi ích cho con người, trí tuệ nhân tạo cũng có khả năng xâm phạm nhân quyền như quyền sở hữu trí tuệ, quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân,... Trước bối cảnh đó, các quốc gia đã ban hành khung pháp lý chặt chẽ để ứng dụng AI mà không vi phạm các khuôn khổ đạo đức cơ bản của con người. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, ngày càng có xu hướng đẩy mạnh ứng dụng AI trong lĩnh vực quản lý rủi ro thuế. Như một hệ quả tất yếu, các quốc gia này đã sớm đối mặt với các rủi ro xảy ra trên thực tế, từ đó dần hình thành một khung pháp lý hoàn chỉnh để quản lý đạo đức AI một cách hiệu quả. Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận các mô hình ứng dụng và quản lý AI một cách đa dạng, từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm phù hợp thực tiễn trong nước.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Khái quát về trí tuệ nhân tạo
Ngày nay, trên thế giới xuất hiện nhiều định nghĩa về trí tuệ nhân tạo. Một trong những văn bản tiêu biểu được áp dụng rộng rãi là Luật Trí tuệ nhân tạo của Liên minh châu Âu (bản được Nghị viện châu Âu thông qua ngày 13/3/2024) định nghĩa: “Hệ thống trí tuệ nhân tạo có nghĩa là một hệ thống dựa trên máy được thiết kế để hoạt động với các mức độ tự chủ khác nhau, có thể thể hiện khả năng thích ứng sau khi hệ thống đã được triển khai và với các mục tiêu rõ ràng hoặc ngầm định, hệ thống này suy luận ra, được từ những dữ liệu đầu vào mà hệ thống nhận được, cách tạo ra các kết quả đầu ra như sự dự đoán, các nội dung, các khuyến nghị hoặc các quyết định mà những thứ này có thể ảnh hưởng đến môi trường vật lý hoặc môi trường ảo”. Như vậy, định nghĩa thể hiện rõ mục tiêu của AI là tái tạo các khả năng trí tuệ của con người qua các hệ thống máy móc có khả năng học hỏi, nhận thức và ra quyết định.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo thường gắn liền với các nguyên tắc đạo đức và nhân quyền. Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo ra nhiều cơ hội trên toàn cầu, nhưng cùng với những thay đổi nhanh chóng đấy là những mối lo ngại sâu sắc về mặt đạo đức. Trước những lo ngại sâu sắc về vấn đề Đạo đức trí tuệ nhân tạo, UNESCO đã ban hành tiêu chuẩn toàn cầu về Đạo đức trí tuệ nhân tạo - “Khuyến nghị về đạo đức trí tuệ nhân tạo” với mục tiêu trọng tâm để bảo vệ nhân quyền, phẩm giá con người và thúc đẩy sự phát triển AI một cách có trách nhiệm với 10 nguyên tắc cơ bản [2]. Tương tự, OECD cũng đưa ra các nguyên tắc về trí tuệ nhân tạo nhằm thúc đẩy sử dụng trí tuệ nhân tạo mang tính đổi mới và đáng tin cậy đồng thời tôn trọng nhân quyền và các giá trị dân chủ. Hiện nay, có 47 quốc gia thực hiện tuân thủ nguyên tắc của OECD về Đạo đức trí tuệ nhân tạo, trong đó có các quốc gia lớn như Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản,... Tổng thể, các nguyên tắc này đã tạo thành một khung đạo đức toàn diện, đặt con người và quyền con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
2.2. Trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro thuế
Đặt trong bối cảnh quản lý thuế, vấn đề tiếp cận nhân quyền thông qua đảm bảo đạo đức AI có thể dẫn tới nhiều vấn đề trong suốt quá trình ứng dụng. Đầu tiên, số lượng lớn dữ liệu về thuế cũng như các thông tin riêng tư được cung cấp để vận hành trí tuệ nhân tạo dẫn tới rủi ro về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu. Thứ nhất, trong suốt quá trình vận hành, hệ thống AI phải tuân thủ các nguyên tắc về tính minh bạch, đặt dưới sự kiểm soát, đánh giá tác động của con người và tối đa hóa sự bảo mật để giảm thiểu rủi ro về an ninh. Thứ hai, đối với các quyết định về thuế được AI hỗ trợ, cơ quan quản lý không chỉ phải giám sát và đưa ra kết luận cuối cùng mà còn phải có trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc xử lý các vấn đề trong lĩnh vực thuế thường mang tính nội bộ và khép kín, gây bất lợi cho chủ thể nộp thuế khi phải đối mặt với các rủi ro về dữ liệu bị lộ, thuật toán thiên vị hoặc sai sót hệ thống. Bên cạnh đó, khi xảy ra sai phạm, cơ chế hoạt động "hộp đen" của AI khiến việc giải trình chu trình vận hành cho đối tượng bị ảnh hưởng trở nên cực kỳ khó khăn. Sự xung đột này cũng ảnh hưởng tới ranh giới sử dụng dữ liệu cho mục đích phát triển công cộng và sử dụng vượt quá mức cần thiết.
2.3. Mô hình ứng dụng tại một số quốc gia và khung pháp lý
Trong phương diện quốc tế, Liên minh châu Âu được đánh giá là có tính uy tín cao trong ứng dụng và kiểm soát AI. Một trong những quốc gia thành viên điển hình và được học hỏi rộng rãi là Pháp. Hệ thống thuế tại Pháp hoạt động dựa trên nguyên tắc tự khai thuế (déclaration) được quy định cụ thể trong Bộ luật Thuế chung (CGI). Mô hình quản lý rủi ro thuế bằng trí tuệ nhân tạo được triển khai từ sớm tại Pháp với 4 phương pháp nổi bật.
Thứ nhất, web-scraping thu thập và quét dữ liệu từ các nền tảng mạng xã hội công khai của cá nhân nộp thuế và đối chiếu với dữ liệu thuế do người nộp thuế cung cấp nhằm xác thực những thông tin được khai báo. Bên cạnh đó, web-scraping còn có chức năng tra soát hình ảnh vệ tinh và chụp ảnh từ trên cao, từ đó phát hiện các bất động sản không khai báo dẫn tới thất thu thuế. Nhờ trí tuệ nhân tạo tra soát ảnh chụp từ máy bay và vệ tinh, hơn 1500 bể bơi chưa được khai báo bị phát hiện và sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thuế tài sản theo đúng quy tắc [5].
Thứ hai, phân tích mạng xã hội (SNA). Trí tuệ nhân tạo sẽ nghiên cứu mạng lưới các mối quan hệ giữa các cá nhân, từ đó tìm ra điểm bất thường về thuế trong quá trình trao đổi giữa các cá nhân.
Thứ ba, tính điểm rủi ro. Trí tuệ nhân tạo sẽ dựa trên dữ liệu thu thập được từ đó tính số điểm rủi ro và phân loại cá nhân nộp thuế thành các mức độ rủi ro khác nhau. Cơ quan quản lý sẽ thực hiện rà soát các trường hợp rủi ro thuế theo khung quy định và đưa ra quyết định cuối cùng. Thứ tư, trợ lý ảo AMI. AMI là trợ lý ảo của cơ quan quản lý thuế Pháp thực hiện chức năng hỗ trợ người nộp thuế trong thực hiện thủ tục hành chính.
Đối với khung pháp lý xoay quanh vấn đề ứng dụng trí tuệ nhân tạo, là một quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, Pháp thực hiện tuân thủ nghiêm ngặt Đạo luật Trí tuệ nhân tạo của EU (EU AI Act) kết hợp với Quy định Bảo vệ Dữ liệu chung (GDPR). Dựa trên hai đạo luật này, Pháp cho ra đời Nghị định CFVR đưa ra quy định cụ thể nhằm cân bằng giữa bảo vệ dữ liệu cá nhân và ứng dụng AI để truy vết vi phạm. Điểm nổi bật là phạm vi dữ liệu mà cơ quan quản lý được phép thu thập và sử dụng. Dữ liệu được thu thập thông qua các nền tảng xã hội sẽ là “dữ liệu có thể truy cập công khai trên các nền tảng trực tuyến nhà khai thác”[14]. Nghĩa là dữ liệu chỉ được coi là hợp pháp để khai thác nếu dữ liệu được hiển thị công khai cho cộng đồng, không buộc đăng ký, tạo tài khoản, mật khẩu trên nền tảng dữ liệu được thu thập. Như vậy, Pháp đặt quyền riêng tư về đời sống của con người làm giới hạn, chỉ thu thập những dữ liệu mà cá nhân đồng ý công khai.
Ở khu vực châu Á, hai quốc gia tiêu biểu trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo đối với quản lý rủi ro thuế cá nhân là Hàn Quốc và Singapore.
Tại Hàn Quốc, chính phủ đang đẩy mạnh kế hoạch chuyển đổi số cho ngành thuế, nhằm mục tiêu tối ưu hóa quy trình thu thuế, nâng cao hiệu quả quản lý tuân thủ và rủi ro thuế thông qua công nghệ số, trong đó AI là trọng tâm. Theo đó, hệ thống AI được ứng dụng với 2 hình thức chính. Thứ nhất, AI hỗ trợ cá nhân, bao gồm AI hỗ trợ tư vấn thuế (AI Tax Consultation) và AI hỗ trợ kê khai thuế (AI HomeTax) [11]. Cơ quan Thuế Quốc gia (NTS) đã huấn luyện hệ thống AI dựa trên nền tảng kiến thức toàn diện về luật thuế, các quyết định hành chính, án lệ, cùng hơn 2 triệu hồ sơ tư vấn trước đó, qua đó cho phép dịch vụ tư vấn thuế mang tính cá nhân hóa cho từng người nộp thuế [13]. Còn đối với AI HomeTax, đây là nền tảng cho phép khai thuế điện tử đối với tất cả các loại thuế, đồng thời cung cấp các chức năng tính toán thuế và kiểm tra lỗi trong quá trình kê khai với những tính năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Thứ hai, AI phân tích rủi ro và phát hiện gian lận thuế, với mục tiêu chuyển từ việc kiểm tra ngẫu nhiên sang “kiểm tra dựa trên rủi ro” [12]. Các công cụ AI sẽ được triển khai nhằm khai thác dữ liệu từ các vụ việc điều tra trong quá khứ và tri thức chuyên gia, qua đó phát hiện các mô hình gian lận thuế mới nổi và hỗ trợ lựa chọn đối tượng thanh tra hiệu quả hơn, góp phần nâng cao tính minh bạch và năng lực thực thi pháp luật thuế [10].
Về phương diện pháp lý, dù Hàn Quốc chưa ban hành luật chuyên biệt về việc ứng dụng AI trong lĩnh vực thuế, hoạt động này vẫn được điều chỉnh bởi một khung pháp lý đa tầng và toàn diện. Trọng tâm là Luật Cơ bản về phát triển AI (SKAIA) - khung pháp lý toàn diện đầu tiên ở châu Á trong việc quản trị AI - trong đó xếp trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong lĩnh vực quản lý rủi ro thuế vào nhóm “AI có tác động cao” (High-impact AI), đòi hỏi hệ thống này sẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về quản lý rủi ro, tính minh bạch hóa thuật toán, thành lập cơ quan quản trị và các hướng dẫn đạo đức. Song song với đó, việc xử lý dữ liệu cũng được kiểm soát chặt chẽ bởi Luật bảo vệ thông tin cá nhân của Hàn Quốc (PIPA), Đạo luật về Sử dụng và Bảo hộ Thông tin Tín dụng, và Hướng dẫn xử lý dữ liệu cá nhân công khai trong phát triển và triển khai dịch vụ AI [8]. Cuối cùng, về lĩnh vực thuế và hành chính, Đạo luật Khung về Thuế Quốc gia và Đạo luật Khung về Hành chính công đã cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng, cho phép cơ quan thuế khai thác dữ liệu từ bên thứ ba và chính thức hóa các quyết định hành chính được ban hành thông qua hệ thống tự động hóa bằng AI. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn đối mặt với nhiều tranh luận. Một số chuyên gia lo ngại rằng SKAIA đang ưu tiên thúc đẩy công nghiệp thay vì cung cấp các biện pháp bảo vệ cá nhân bị ảnh hưởng từ hệ thống AI. Đồng thời các nghị định thực thi vẫn còn đang sửa đổi và chưa có khuôn khổ giám sát đầy đủ đã đặt ra câu hỏi liệu Hàn Quốc có đang tiến quá nhanh đến việc thực thi trong khi chưa chắc chắn về mặt pháp lý và thực tiễn hay không [4].
Hiện nay, Singapore đã trở thành một trong những nước đi đầu trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhằm quản lý rủi ro thuế tại khu vực châu Á. Báo cáo so sánh hành chính thuế vào năm 2020 của Ngân hàng Phát triển Châu Á đã chỉ ra Inland Revenue Authority of Singapore (IRAS) là một trong hai cơ quan thuế đầu tiên trong số các quốc gia được khảo sát đã tích hợp AI vào quy trình quản lý thuế [1]. Vào năm 2021, chatbot của IRAS đã được ra mắt cho phép người nộp thuế có thể thông qua đó kiểm tra một số nội dung như số dư thuế còn nợ hay trạng thái thanh toán, chỉnh sửa kế hoạch thanh toán và thực hiện nộp thuế thông qua các điểm thanh toán tự phục vụ hoặc các kênh di động. Ngoài ra, trí tuệ nhân tạo cũng được tích hợp trong hoạt động quản lý thông tin của người nộp thuế và phát hiện gian lận. Một ví dụ minh họa là Nền tảng Thanh toán Tập trung (One-Payout Platform) đã được IRAS phát triển nhằm tăng cường khả năng phát hiện các hành vi trục lợi hệ thống và xác định các khoản chi trả rủi ro trên cơ sở tích hợp các khả năng phân tích dữ liệu và học máy [6]. Đối với hình thức Gian lận thương nhân mất tích (MTF), IRAS đã phát triển Mô hình Đệm MTF - một giải pháp học máy tự động giúp phát hiện sớm các thực thể trung gian (thực thể đệm) tham gia vào hoạt động MTF, cho phép cơ quan này can thiệp sớm và phá vỡ chuỗi cung ứng trước khi các hoạt động gian lận sâu hơn được thực hiện. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng tác động một cách gián tiếp vào hoạt động quản lý rủi ro thuế thông qua việc hỗ trợ, nâng cao hiệu suất làm việc của các cán bộ thuế bằng cách cung cấp một chatbot nội bộ riêng cho cơ quan thuế [7, 67].
Singapore điều chỉnh việc ứng dụng AI trong quản lý rủi ro thuế đối với cá nhân thông qua một hệ thống đa tầng kết hợp giữa Luật bảo vệ dữ liệu và Khung quản trị AI quốc gia. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được quy định cụ thể trong Đạo luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Personal Data Protection Act) 2012 của Singapore, bao gồm các yêu cầu khác nhau điều chỉnh việc thu thập, sử dụng, tiết lộ và quản lý dữ liệu cá nhân tại Singapore với mục tiêu cốt lõi là điều tiết và đảm bảo cho hai nhu cầu được thực hiện: nhu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân của các cá nhân và nhu cầu thu thập, sử dụng hoặc tiết lộ dữ liệu cá nhân của các tổ chức cho các mục đích hợp lý và chính đáng [9]. Trong các đạo luật thuế như Đạo luật Thuế Thu nhập (Income Tax Act) hay Đạo luật Thuế Hàng hóa và Dịch vụ (GST Tax Act), nghĩa vụ bảo mật của cán bộ thuế được đề cập một lần nữa. Yêu cầu về bảo vệ dữ liệu khi ứng dụng AI đã được tiếp nhấn mạnh thông qua Hướng dẫn Tham vấn về việc Sử dụng Dữ liệu Cá nhân trong các Hệ thống Ra quyết định và Gợi ý bằng AI, nhằm giúp các tổ chức làm rõ hơn cách sử dụng dữ liệu cá nhân để huấn luyện hoặc phát triển AI, nhằm hỗ trợ nỗ lực triển khai AI của họ. Gần đây nhất, trong năm 2025, Cơ quan Phát triển Truyền thông Thông tin (IMDA) có bản hướng dẫn mới về áp dụng các công nghệ tăng cường quyền riêng tư (PET) và Tiêu chuẩn Singapore về Bảo vệ Dữ liệu. Đối với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước, tại Singapore cho tới hiện nay chưa có một văn bản pháp lý nào mà chỉ tồn tại các khung quản lý và bộ nguyên tắc. Ủy ban Bảo vệ dữ liệu cá nhân của Singapore đã ra mắt Khung Quản trị AI mẫu nhằm tạo điều kiện phát huy tiềm năng to lớn chưa thể khám phá hết của AI mà vừa giảm thiểu những bất trắc, rủi ro của công nghệ mới trên cơ sở quy định các nguyên tắc cơ bản. Khung quản trị này đề ra các nguyên tắc đạo đức bao gồm khả năng giải trình, minh bạch và công bằng, các giải pháp trí tuệ nhân tạo cần phải lấy con người làm trung tâm. Đối với trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI), IMDA và Trung tâm AI vì lợi ích cộng đồng (AI Verify Foundation) của Singapore cũng đã cho ra mắt một khung quản trị riêng mang tên Khung quản trị AI tạo sinh mẫu vào tháng 5/2024 với 9 nội dung trụ cột nhằm đảm bảo các nguyên tắc đạo đức đã nêu và để thực hiện mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái đáng tin cậy trên môi trường kỹ thuật số.
3. Kết quả nghiên cứu
Nhìn chung, qua nghiên cứu, các quốc gia đều có sự tương tự trong mô hình áp dụng và pháp luật quản lý rủi ro thuế. Các quốc gia đa số đều sử dụng AI là một “công cụ hỗ trợ” trên 3 phương diện chủ yếu: hỗ trợ cán bộ thuế ra quyết định hành chính, đánh giá và phân loại hồ sơ rủi ro, trợ lý ảo hỗ trợ người nộp thuế. Quá trình vận hành AI đều được đặt dưới sự kiểm soát của con người, đồng thời, con người cũng có quyền ra quyết định cuối cùng trong mọi tình huống. Tuy nhiên, khung pháp lý các quốc gia lại được xây dựng khác nhau. Pháp lựa chọn không xây dựng khung pháp lý riêng biệt của quốc gia về trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu mà áp dụng trực tiếp luật khu vực là EU AI Act và GDPR như luật quốc gia, từ đó phân công các Bộ chuyên ngành căn cứ vào đó để xây dựng những quy định cần thiết đối với lĩnh vực của mình. Trong khi đó, Singapore lựa chọn ban hành những văn bản luật mềm làm bước đệm để xây dựng một khung luật cứng trong tương lai. Còn tại Hàn Quốc, dù chưa có khung pháp lý riêng biệt về ứng dụng AI trong quản lý rủi ro thuế, tuy nhiên cũng đã ban hành khung pháp lý về trí tuệ nhân tạo nói chung, được đánh giá là một trong những khung pháp lý toàn diện nhất trong khu vực châu Á tại thời điểm này.
4. Kết luận
Trí tuệ nhân tạo đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quản lý thuế trên phạm vi toàn cầu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế và hỗ trợ cơ quan thuế trong công tác phân tích rủi ro và ra quyết định. Thực tiễn triển khai AI tại nhiều quốc gia cho thấy, tiềm năng lớn trong việc hiện đại hóa quản lý thuế, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về thể chế, hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu sâu hơn kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là cần thiết khi Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi và bắt đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách mạnh mẽ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN:
1. Asian Development Bank, (2020), A comparative analysis of tax administration in Asia and the Pacific: 2020 edition, < https://www.adb.org/sites/default/files/publication/569626/tax-administration-asia-pacific-2020.pdf>.
2. Ethnics of artificial intelligence, UNESCO, <https://www.unesco.org/en/artificial-intelligence/recommendation-ethics>.
3. Luật Cơ bản về phát triển trí tuệ nhân tạo và nền tảng về độ tin cậy (Hàn Quốc).
4. Lee Gyu-lee, (2025), How newly revised AI Basic Act will reshape Korea's AI landscape, The Korea Times, <https://www.koreatimes.co.kr/business/tech-science/20260102/how-newly-revised-ai-basic-act-will-reshape-koreas-ai-landscape.
5. Le fisc découvre 1.500 piscines non-déclarées en Dordogne grâce à l'intelligence artificielle, ICI, <https://www.francebleu.fr/infos/economie-social/le-fisc-decouvre-1500-piscines-non-declarees-grace-a-l-intelligence-artificielle-1655905912>.
6. OECD, (2023), Tax Administration 2023: Comparative Information on OECD and other Advanced and Emerging Economies (2023), OECD Publishing, tr.98.
7. OECD, (2025), Tax Administration 2025: Comparative Information on OECD and other Advanced and Emerging Economies (2025), OECD Publishing, tr.67.
8. OECD, (2025), Digital government review of Korea: Harnessing digital and data to transform government (Chapter 5: Leveraging AI for government transformation), OECD Publishing, <https://www.oecd.org/en/publications/digital-government-review-of-korea_9defc197-en/full-report/leveraging-ai-for-government-transformation_64eb9a1e.html#MSI20_cf08382912>.
9. Personal Data Protection Commission of Singapore, PDPA overview, <https://www.pdpc.gov.sg/overview-of-pdpa/the-legislation/personal-data-protection-act](https://www.pdpc.gov.sg/overview-of-pdpa/the-legislation/personal-data-protection-act>.
10. PwC, (2025), Korean tax update: Samil commentary, <https://www.pwc.com/kr/ko/insights/samil-commentary/samilcommenatry_nov2025_en.pdf >.
11. Seo Min-U, (2025), Korea Tax Agency to deploy AI for consultations, let taxpayers choose audit timing, Seoul Economic Daily, <https://en.sedaily.com/finance/2025/12/19/korea-tax-agency-to-deploy-ai-for-consultations-let>.
12. 택스워치, (2025), 국세청 0.5% 전사들, 어떻게 ‘AI 대전환’ 이끌까, Taxwatch, <https://www.taxwatch.co.kr/article/tax/2025/10/31/0001>.
13. V Chosun, (2025), 국세청 ‘미래혁신 추진단’ 출범…인공지능 기반 세정혁신 착수, TV Chosun, <https://news.tvchosun.com/site/data/html_dir/2025/08/14/2025081490258.html>.
14. Délibération n° 2021-116 du 7 octobre 2021 portant avis sur un projet de décret portant création d'un traitement automatisé de données à caractère personnel visant à détecter et caractériser les opérations d'ingérence numérique étrangères.
The practical application of artificial intelligence in tax administration across selected countries
Nguyen Thu Ha1
Vu Phuong Chi1
Pham Nguyen Khanh Linh1
1Student, Hanoi Law University
Abstract:
Vietnam’s tax administration is currently undergoing significant restructuring, emphasizing risk-based management and the expanded application of artificial intelligence (AI) technologies. While this transformation enhances efficiency and predictive capacity in tax governance, it simultaneously raises complex legal issues concerning regulatory oversight, data protection, transparency, and the safeguarding of taxpayers’ rights. This study analyzes core components of selected jurisdictions’ legal frameworks governing the use of AI in tax risk management, focusing on regulatory design, accountability mechanisms, and procedural safeguards. Through a comparative legal approach, the study elucidates key normative considerations shaping the integration of AI into tax administration within the broader context of digital governance reform.
Keywords: risk management, tax, tax administration, artificial intelligence
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 3 năm 2026]
