TÓM TẮT:
Mặc dù các quy định của pháp luật về an toàn lao động (ATLĐ) đã tương đối đầy đủ với sự ra đời của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015) - một đạo luật riêng biệt bổ sung kịp thời cho hệ thống pháp luật về ATLĐ trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên việc áp dụng trong thực tiễn vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi. Bài viết phân tích một số hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành pháp luật về ATLĐ tại các doanh nghiệp xây dựng để đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: an toàn lao động, doanh nghiệp xây dựng, Luật An toàn, vệ sinh lao động, tai nạn lao động.
1. Đặt vấn đề
Năm 2023, cả nước đã xảy ra 7.394 vụ tai nạn lao động[1] (TNLĐ), năm 2024, con số này tăng thêm 12,1% lên tới 8.286 vụ. Số vụ TNLĐ chết người cũng tăng lên, từ 662 vụ năm 2023 lên 675 vụ năm 2024 (tăng 1,96%), cùng với đó, số người chết vì TNLĐ tăng 4,81% từ 699 người năm 2023 lên 727 người năm 2024. Đặc biệt, trong các lĩnh vực, ngành nghề xảy ra nhiều TNLĐ chết người hiện nay, xây dựng luôn thuộc nhóm các ngành nghề có nhiều TNLĐ chết người, chiếm 13,25% tổng số vụ tai nạn và 11,15% tổng số người chết, tiếp đến là sản xuất vật liệu xây dựng với 9,72% tổng số vụ và 11,25% tổng số người chết[2].
Tuy nhiên, trên thực tế số liệu này chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều nếu được thống kê đầy đủ, bởi hơn 60% lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực lao động không có quan hệ lao động. Nguyên nhân chính để xảy ra TNLĐ một mặt do người sử dụng lao động (NSDLĐ) thiếu quan tâm đến việc đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, một mặt do ý thức tự giác thực hiện ATLĐ của người lao động (NLĐ) chưa cao, đồng thời thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra nhà nước về ATLĐ.
Những con số trên cho thấy hậu quả nghiêm trọng không những về tính mạng, sức khỏe của NLĐ, mà còn gây thiệt hại về tài sản, của cải của doanh nghiệp và Nhà nước, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2. Một số hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng
2.1. Công tác phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho người lao động
Về phía NSDLĐ, nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm tới lợi nhuận mà chưa thực sự thấy được ý nghĩa to lớn cũng như hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn cho NLĐ. Ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm, các doanh nghiệp chủ yếu vi phạm các tiêu chuẩn, quy định pháp luật về ATLĐ, như: chưa tổ chức đánh giá nguy cơ rủi ro về ATLĐ và tổ chức kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc; không đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, không trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân chất lượng; chưa huấn luyện ATLĐ hoặc có huấn luyện nhưng không đầy đủ; chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, khám sức khỏe định kỳ không được thực hiện thường xuyên. Lãnh đạo doanh nghiệp chưa tích cực đôn đốc, kiểm tra, giúp đỡ cơ sở, chi nhánh, công trường giải quyết vướng mắc khó khăn khi cần thiết. Cán bộ làm công tác ATLĐ và chăm sóc sức khỏe NLĐ còn thiếu, chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đầy đủ và hoạt động chưa hiệu quả… Phân tích từ các biên bản điều tra TNLĐ, nguyên nhân gây TNLĐ từ phía NSDLĐ chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 45,41%. Cụ thể, NSDLĐ không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 14,6% tổng số vụ; không huấn luyện ATLĐ hoặc huấn luyện ATLĐ chưa đầy đủ cho NLĐ chiếm 12,31% tổng số vụ; thiết bị không đảm bảo ATLĐ chiếm 10% tổng số vụ; do tổ chức lao động và điều kiện lao động chiếm 6,2% tổng số vụ và do không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động chiếm 2,3%[3].
Về phía NLĐ, những năm gần đây, một bộ phận không nhỏ NLĐ trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chuyển sang đầu quân cho các doanh nghiệp xây dựng, bất chấp điều kiện, môi trường làm việc miễn là có thu nhập, bởi ngành xây dựng luôn cần một lượng lớn NLĐ làm các công việc thủ công, độ cơ giới hóa thấp. Những NLĐ này đi làm mà không được đào tạo, khi vào làm việc lại chỉ được hướng dẫn qua loa về các thao tác trong công việc, vì vậy, thiếu hiểu biết pháp luật về ATLĐ, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng trong môi trường lao động. Bên cạnh đó, xây dựng là ngành yêu cầu NLĐ phải có sức khỏe, thể lực tốt, do vậy đây cũng là ngành tập trung nhiều lao động trẻ - độ tuổi đang ở trong giai đoạn sung sức, phát triển toàn diện về thể chất và tâm lý, tuy nhiên lại chưa có kinh nghiệm làm việc, không được đào tạo bài bản, huấn luyện về bảo đảm ATLÐ, nhận thức còn hạn chế về các mối nguy hiểm liên quan công việc. Ngoài ra, nhiều lao động trẻ mới chỉ học để làm việc chứ chưa học để bảo đảm an toàn tính mạng cho mình, cùng với kỹ năng thương lượng kém cũng là nguyên nhân khiến lao động trẻ dễ chấp nhận những công việc nguy hiểm hoặc những công việc có điều kiện làm việc không an toàn.
Như vậy, dù thuộc đối tượng nào thì bản thân NLĐ cũng chưa có nhận thức đúng đắn về vấn đề ATLĐ, không được trang bị đầy đủ kiến thức cũng như không được cung cấp những thông tin thực tế về các vụ TNLĐ, do vậy mà lơ là, bất cẩn, không thấy được những hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe, thậm chí là với tính mạng của bản thân khi TNLĐ xảy ra. Trong các vụ TNLĐ, nguyên nhân do NLĐ chiếm 20%, cụ thể: NLĐ bị nạn vi phạm quy trình, quy chuẩn ATLĐ chiếm 16,9% tổng số vụ và NLĐ không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 3,1% tổng số vụ[4].
2.2. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ATLĐ
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lao động nói chung và ATLĐ nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn trong thời kỳ mới, còn bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ với biên chế và trình độ cán bộ. Như đã phân tích ở trên, thanh tra lao động trong những năm qua chưa ổn định, mức độ kiện toàn còn thấp, đội ngũ cán bộ thanh tra vừa thiếu về số lượng, lại vừa yếu về chất lượng; mỗi thanh tra viên phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực phức tạp; nguồn lực cho công tác thanh tra ATLĐ ngày càng ít. Số lượng và tần suất các cuộc thanh tra về lao động tại các doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu, đặc biệt là số cơ sở sử dụng dưới 10 lao động được thanh tra còn khá ít. Tình trạng này dẫn đến việc tác động của công tác thanh tra chưa mang tính rộng khắp và chưa đủ cơ sở để đánh giá chính xác mức độ thực hiện pháp luật lao động của các doanh nghiệp.
Bên cạnh cơ quan Thanh tra, các cơ quan Kiểm sát, Tòa án nói chung vẫn chưa quan tâm đúng mức tới việc đưa ra khởi tố và xét xử những vụ TNLĐ nghiêm trọng, mỗi năm có hàng trăm vụ TNLĐ chết người, nhưng hầu hết các vụ TNLĐ chết người hoặc gây hậu quả nghiêm trọng này đều được xử lý hành chính nội bộ, số vụ truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ nên không có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn nguyên nhân xảy ra TNLĐ.
Ngoài ra, chế tài xử phạt đối với doanh nghiệp, NLĐ không chấp hành pháp luật về ATLĐ còn ở mức thấp, việc xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn nhiều khó khăn, bất cập. Cụ thể, mức xử phạt thấp, không tương xứng với mức độ vi phạm cũng như không đủ sức răn đe; nhiều hành vi vi phạm bị bỏ sót; thời hạn ngắn, gây khó khăn cho đối tượng vi phạm khắc phục và thực hiện giải trình; trang bị phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu, một số hành vi chủ yếu chỉ nhìn bằng mắt thường, chưa đủ tính thuyết phục; việc chỉ ra lỗi cho doanh nghiệp chưa đảm bảo khách quan, chính xác, tương xứng với sự phát triển của công nghệ sản xuất; khó vận động người làm chứng khi đối tượng vi phạm không chịu ký biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt của thanh tra Sở quá thấp (dưới 37,5 triệu đồng)[5]; vẫn còn đối tượng vi phạm chưa chấp hành đúng thời hạn nộp phạt; quy định về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt chưa cụ thể và chưa phù hợp với thực tiễn, nên chưa đem lại hiệu quả và không có tính khả thi.
2.3. Công tác tham gia, phối hợp của tổ chức công đoàn
Trong những năm qua, tổ chức công đoàn đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm đảm bảo an toàn tính mạng và sức khỏe cho NLĐ tại nơi làm việc, tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế nhất định là nguyên nhân để xảy ra tình trạng TNLĐ gia tăng như hiện nay. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo công đoàn các cấp chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tác động của công tác ATLĐ đối với đời sống NLĐ, do đó, chưa thực sự quan tâm, coi trọng thực hiện ATLĐ. Một số cán bộ làm công tác công đoàn cơ sở lại là thành phần lãnh đạo doanh nghiệp - một điều hiếm gặp ở các nước phát triển, do vậy, tính khách quan, công bằng trong công tác an toàn cho NLĐ không được đảm bảo, vẫn mang hơi hướng có lợi cho NSDLĐ. Thêm vào đó, công đoàn cơ sở còn thiếu các chính sách, biện pháp kiên quyết yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xử lí thích đáng, nghiêm minh những người thiếu trách nhiệm khi để xảy ra TNLĐ, bệnh nghề nghiệp cũng như buộc NSDLĐ phải thi hành nghiêm chỉnh pháp luật về ATLĐ. Không ít công đoàn cơ sở tại một số doanh nghiệp chưa phát huy hết khả năng, vai trò của mình trong việc giám sát NSDLĐ thực hiện các quy định về ATLĐ, động viên, khuyến khích NLĐ chấp hành tốt các quy định về ATLĐ. Nội dung hoạt động của một bộ phận công đoàn cơ sở còn sơ sài, chưa tận tình với các công việc quan trọng, mới dừng lại ở việc thăm hỏi, động viên lúc ma chay, hiếu hỉ và một số hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao. Công tác tham gia xây dựng các chế độ, chính sách về ATLĐ chưa hiệu quả, dẫn đến một số văn bản, nội quy, quy chế doanh nghiệp về ATLĐ còn có sự chồng chéo, không thống nhất nên rất khó thực hiện. Sự phối hợp giữa công đoàn cơ sở và cơ quan quản lí đồng cấp trong công tác kiểm tra giám sát thực hiện công tác ATLĐ chưa được thường xuyên, liên tục; nội dung kiểm tra chưa cụ thể, chưa sát với tình hình thực tế của công trường, đơn vị, đặc biệt, việc kiểm tra ở một số nơi mang tính chất hình thức, chỉ kiểm tra trên sổ sách. Bên cạnh đó, hầu hết các cán bộ công đoàn đều làm việc kiêm nhiệm, chưa được đào tạo về nghiệp vụ, vì vậy chưa làm tốt vai trò của mình là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ.
2.4. Công tác khác
Mức độ quan tâm tới vấn đề ATLĐ của các cấp chính quyền, người đứng đầu các tổ chức, cơ quan còn thấp, buông lỏng trong việc quản lí, tổ chức giám sát thực hiện quy định pháp luật. Thêm vào đó, công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về ATLĐ chưa sát sao, còn mang tính hình thức, thiên về đưa tin các vụ việc, thiếu các giải pháp cảnh báo, phòng ngừa mang tính khả thi cao phù hợp với từng địa bàn trước tình hình TNLĐ diễn biến phức tạp trong ngành xây dựng ở thành phố hiện nay. Hệ thống pháp luật về ATLĐ còn thiếu, chưa đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp, thiếu tính khả thi; nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn không còn phù hợp, chậm được sửa đổi; công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ về ATLĐ chưa đáp ứng được yêu cầu.
3. Hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động từ thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện công tác an toàn lao động.
Như đã phân tích ở trên, ATLĐ liên quan đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội, chính vì vậy, công tác quản lý ATLĐ được phân cấp cho nhiều cơ quan, tổ chức ở các cấp độ khác nhau. Theo sự phân công chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, hiện nay, Bộ Nội vụ (Cục Việc làm) là cơ quan quản lý trực tiếp về ATLĐ, ở địa phương có các Sở, các Phòng. Bên cạnh cơ quan quản lý chuyên ngành, hệ thống cơ quan nhà nước còn có các bộ, ngành khác như Bộ Xây dựng, Bộ Y tế… cũng có trách nhiệm quản lí nhà nước về ATLĐ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn quản lý của mình. Để có sự thống nhất trong quản lý và sự nhịp nhàng, hiệu quả trong hoạt động, các cơ quan này phải phối hợp với nhau để tránh sự chồng chéo, trùng lặp. Đồng thời, trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về ATLĐ, nếu chỉ riêng một cơ quan nào đó đặt ra quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn ATLĐ cho ngành mình mà không có sự thống nhất với các cơ quan liên quan thì không thể nào tránh được những thiếu sót, chủ quan, không phù hợp với mặt bằng chung. Vì vậy, cần thiết phải thiết lập cơ chế phối hợp thống nhất, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong hoạt động quản lý nhà nước về ATLĐ.
Đối với hoạt động của tổ chức công đoàn: hiện nay, khi TNLĐ xảy ra, cán bộ công đoàn đến hiện trường ghi nhận tình hình thì thường xảy ra tình trạng bảo vệ doanh nghiệp đóng cửa không cho tiếp cận, hoặc khi công an đến hiện trường điều tra, thu giữ tài liệu thì cán bộ công đoàn cũng chỉ biết chờ đợi. Một thực trạng khác, sau khi ký xác nhận vào Biên bản điều tra TNLĐ và Biên bản cuộc họp công bố Biên bản điều tra TNLĐ, dường như nhiệm vụ của công đoàn cơ sở đã hoàn thành, ít quan tâm tới việc NSDLĐ có giải quyết chế độ, có bồi thường cho người bị nạn hay không, mức bồi thường có thích đáng hay không. Pháp luật ATLĐ hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc quy định một cách chung chung rằng, tổ chức công đoàn có quyền và trách nhiệm “tham gia, phối hợp” với các bên liên quan trong các hoạt động của công tác ATLĐ mà chưa có quy định nào ghi nhận cán bộ công đoàn là thành viên chính thức của đoàn điều tra TNLĐ hay mức độ giám sát của công đoàn đến đâu. Vì vậy, theo quan điểm của người viết, cần thiết quy định thêm công đoàn cơ sở là thành viên tổ điều tra TNLĐ và quy định cụ thể quyền giám sát việc thực hiện chi trả, đảm bảo chế độ cho NLĐ bị nạn.
Đối với hoạt động của thanh tra ATLĐ: Đặc thù của công tác ATLĐ là phải được kiểm tra, giám sát thường xuyên, nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời những nguy cơ có thể xảy ra TNLĐ và các mối nguy hại khác cho NLĐ. Để hoạt động ATLĐ diễn ra một nghiêm túc, xuyên suốt, công tác thanh tra ATLĐ phải luôn được chú trọng. Tuy nhiên, hiện nay thanh tra ATLĐ vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn như đã phân tích. Do vậy, để phát huy tối đa hiệu quả của các quy định pháp luật về ATLĐ, cần bổ sung các quy định và hướng dẫn cụ thể nhằm kiện toàn cơ cấu, hệ thống tổ chức, chế độ đãi ngộ, tiêu chuẩn, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm,… thanh tra ATLĐ. Bên cạnh đó, cần phải tăng cường sự phối hợp giữa thanh tra nhà nước về ATLĐ với hoạt động của công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp để đáp ứng được đòi hỏi sự phức tạp của ATLĐ trong điều kiện ở nước ta hiện nay.
Đối với hoạt động của cơ quan Công an và Viện kiểm sát nhân dân: Hiện nay, việc phối hợp điều tra, xử lý hậu quả TNLĐ, bệnh nghề nghiệp giữa các cơ quan còn gặp nhiều khó, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng tồn đọng, kéo dài, quyền và lợi ích của người bị nạn không được giải quyết dứt điểm, kịp thời. Vì vậy, cần thiết phải rà soát, chỉnh sửa, bổ sung các quy định sao cho thống nhất giữa các văn bản của các cơ quan nhưng vẫn đảm bảo sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ mà không ảnh hưởng tới các quy định khác để thuận lợi, nhanh chóng và chính xác trong xử lý TNLĐ, bệnh nghề nghiệp.
Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với những máy móc, thiết bị ngoại nhập hiện đại, tiên tiến, trong khi một số tiêu chuẩn về ATLĐ của Việt Nam được ban hành từ lâu, nay đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp. Trong khi đó, xu thế hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi các quốc gia thành viên của các tổ chức quốc tế phải tuân thủ các tiêu chuẩn chung về ATLĐ. Sức ép cạnh tranh càng gia tăng đối với các ngành nghề, trong đó có xuất nhập khẩu các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, nếu các quy chuẩn kỹ thuật của chúng ta lỗi thời thì khó có thể bước vào thị trường quốc tế. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại, có đủ sức cạnh tranh và phát triển, pháp luật về ATLĐ cần rà soát về nội dung các văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn Nhà nước về ATLĐ và các quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn, quy trình kiểm tra chất lượng hàng hóa đặc thù, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế những tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm trước đây đã lỗi thời so với thời cuộc.
Thứ ba, hoàn thiện quy định pháp luật về cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo môi trường làm việc an toàn.
Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu trong việc giảm thiểu những tác động nguy hiểm, có hại của môi trường làm việc tới sức khỏe, sự an toàn của NLĐ. Dù nền kinh tế đã có nhiều bước phát triển tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều ngành nghề tồn tại những công việc thủ công như nông nghiệp, xây dựng,… Vì vậy, điều kiện lao động nặng nhọc, nguy hiểm là không thể tránh khỏi. Pháp luật ATLĐ cần có các quy định, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nghiên cứu khoa học, tự động hóa, thay thế công nghệ hiện đại hơn, tiến bộ hơn làm giảm sức lực của NLĐ.
Sớm ban hành các văn bản quy phạm làm rõ các quy định về điều kiện năng lực của nhà thầu tham gia xây dựng công trình phải có cán bộ chuyên trách quản lý về ATLĐ; cấp chứng chỉ hành nghề ATLĐ trong xây dựng; đồng thời quy định rõ trong những điều kiện lao động nhất định phải đảm bảo những trang bị, phương tiện bảo hộ tương ứng phù hợp chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn,… Phải có chế tài, trách nhiệm vật chất tương ứng đối với việc NSDLĐ không sử dụng phương tiện BHLĐ hoặc sử dụng trang bị bảo hộ không đảm bảo chất lượng, sử dụng không đúng mục đích,… Bổ sung các quy định chi tiết về kiểm soát yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc; trách nhiệm của doanh nghiệp, NSDLĐ trong việc lập, phê duyệt Phương án bảo đảm ATLĐ khi xây mới, mở rộng hoặc cải tạo công trình, cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; các chế độ cho người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; huấn luyện ATLĐ và tư vấn ATLĐ đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; xử lý sự cố ứng cứu khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn, sự cố nghiêm trọng;… Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và xử lí theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính an toàn lao động.
Hiện nay việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATLĐ được áp dụng theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, tuy nhiên quá trình thực hiện vẫn còn một số khó khăn, như: khó xử phạt đối với các doanh nghiệp không xây dựng kế hoạch thực hiện công tác ATLĐ hoặc có xây dựng kế hoạch nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; không tổ chức khám sức khỏe cho NLĐ; tổ chức khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp nhưng không đủ nội dung; một số hành vi vi phạm có mức xử phạt còn thấp, không đủ tính răn đe; vẫn còn đối tượng vi phạm chưa chấp hành đúng thời hạn nộp phạt; một số đơn vị sau khi nhận được văn bản nhắc nhở việc nộp phạt nhưng vẫn không chấp hành theo quy định do cố tình chây ì hoặc có một số trường hợp do khó khăn về tài chính… Vì vậy, cần phải sửa đổi các hành vi vi phạm đã được quy định trong Nghị định số 12/2022/NĐ-CP cho phù hợp với Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015: bổ sung các hành vi vi phạm cần xử lý theo pháp luật hiện hành; tăng thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền so với quy định hiện nay; tăng mức xử phạt đối với các doanh nghiệp cố tình không khai báo hoặc không thống kê, thống kê không đầy đủ, các hành vi vi phạm pháp luật về ATLĐ, nhất là các hành vi vi phạm chủ yếu của NLĐ và NSDLĐ.
Rà soát, đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật: Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với tội danh liên quan đến ATLĐ để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; các Nghị định xử phạt chuyên ngành khác để tránh trùng lặp, một hành vi vi phạm được quy định tại nhiều Nghị định xử phạt với các mức xử phạt không đồng nhất; bổ sung quy định phối hợp giữa các ngành liên quan trong việc cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về ATLĐ nói riêng và trong lĩnh vực lao động nói chung. Ngoài ra, cần thiết hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính để đảm bảo quy trình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao trên thực tế, mang lại hiệu quả cho công tác thi hành.
4. Kết luận
Điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất, kinh doanh, đồng thời là trách nhiệm bắt buộc đối với NSDLĐ là phải bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NLĐ, thiết lập được môi trường lao động an toàn, hạn chế tối đa những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại, làm giảm tỉ lệ NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về ATLĐ từ những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành là rất cần thiết, đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của pháp luật ATLĐ./.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] Thông báo số 1136/TB-BLĐTBXH ngày 21/3/2024 của Bộ Nội vụ về tình hình TNLĐ năm 2023.
[2] Thông báo số 630/TB-BLĐTBXH ngày 18/02/2025 của Bộ Nội vụ về tình hình TNLĐ năm 2024.
[3,4] B.D (2018). Lĩnh vực xây dựng đứng đầu về tai nạn lao động chết người. Truy cập tại http://laodongthudo.vn/linh-vuc-xay-dung-dung-dau-ve-tai-nan-lao-dong-chet-nguoi-72249.html.
[5] Khoản 2 Điều 49 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/1/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN VÀ THAM KHẢO:
Chính phủ (2022). Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê quốc gia.
Quốc hội (2015). Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Quốc hội (2025). Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Limitations in enforcing occupational safety legislation in construction enterprises and recommendations for legal reform
Ho Thi Thuy Linh
Faculty of Training of Notaries and other positions, Judicial Academy of Vietnam
ABSTRACT:
Although Vietnam’s legal framework on occupational safety has become more comprehensive, especially following the enactment of the Law on Occupational Safety and Hygiene in 2015, its implementation has not achieved the expected level of effectiveness. In practice, construction enterprises continue to face significant challenges in complying with occupational safety regulations, revealing gaps between legal provisions and actual enforcement. This study examines key limitations in the application of occupational safety laws within the construction sector, analyzes the underlying causes, and proposes legal and institutional reforms to enhance compliance. The recommended solutions aim to strengthen occupational safety management and better meet the requirements of industrialization, modernization, and international integration in Vietnam.
Keywords: occupational safety, construction enterprises, Law on Occupational Safety and Hygiene, occupational accidents.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 31/2025]
