Đặc sản vùng cao còn nhiều điểm nghẽn về công nghệ và thị trường
Từ những điều kiện tự nhiên đặc thù, nguồn nguyên liệu bản địa và tri thức sản xuất được gìn giữ qua nhiều thế hệ, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều sản phẩm mang chất lượng, bản sắc và giá trị riêng. Tuy nhiên, quá trình phát triển các sản phẩm này vẫn gặp không ít hạn chế về năng suất, quy mô, khả năng kiểm soát chất lượng, công nghệ chế biến, bảo quản và năng lực tiếp cận thị trường.
Tại Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 21/9, ông Phạm Quyết Tiến - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất không chỉ là thiếu máy móc hay công nghệ hiện đại, mà là thiếu một hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện của từng vùng.
Theo ông Phạm Quyết Tiến, nhiều nơi vẫn sản xuất phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa; việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu chưa ổn định. Sau thu hoạch, tổn thất còn cao do thiếu công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến phù hợp. Dữ liệu về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng kết nối thị trường cũng còn yếu.
Vì vậy, nhiều sản vật dù có giá trị văn hóa và chất lượng tốt nhưng vẫn chủ yếu dừng ở dạng nguyên liệu thô, sản lượng không ổn định và khó tạo ra giá trị gia tăng cao.
Không chỉ ở khâu sản xuất, khoảng cách về năng lực số cũng đang trở thành một điểm nghẽn mới. Ông Bùi Quang Cường - Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho biết, mức độ ứng dụng thương mại điện tử và công cụ số giữa các chủ thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn không đồng đều.
Theo ông Bùi Quang Cường, công nghệ số có thể xóa nhòa khoảng cách địa lý, giúp một sản phẩm ở vùng núi tiếp cận người tiêu dùng trên toàn quốc, thậm chí thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, khoảng cách về kỹ năng số lại có xu hướng gia tăng. Thương mại điện tử đang bước vào giai đoạn thanh lọc, khi doanh thu tiếp tục tăng nhưng số lượng nhà bán hàng giảm, cho thấy kinh doanh trực tuyến ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp, quy trình bài bản và năng lực cạnh tranh cao hơn.
Thực tế từ Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm (tỉnh Phú Thọ) cũng cho thấy yêu cầu đổi mới đang xuất phát trực tiếp từ những vấn đề của sản xuất.
Bà Trần Thị Thúy - Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm cho biết, từ vùng trồng 30 ha thanh long ruột đỏ, Hợp tác xã nhận thấy tình trạng được mùa rớt giá, thời gian bảo quản quả tươi ngắn, khó vận chuyển xa. Từ đó, Hợp tác xã nghiên cứu chế biến thanh long thành mì gạo thanh long, đồng thời đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp nhằm nâng năng suất và giảm nhân công.
Tuy nhiên, bên cạnh đầu tư công nghệ sản xuất, Hợp tác xã vẫn phải tiếp tục hoàn thiện năng lực về công nghệ số, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu của những thị trường có tiêu chuẩn cao.
Lựa chọn công nghệ phù hợp, gắn với nhu cầu và đầu ra
Từ thực trạng trên, các diễn giả trao đổi tại tọa đàm cho rằng, ứng dụng khoa học công nghệ cần bắt đầu từ đúng điểm nghẽn của sản phẩm, địa phương và chủ thể sản xuất, thay vì chạy theo công nghệ hiện đại hoặc đầu tư máy móc đơn lẻ.
Theo ông Phạm Quyết Tiến, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo chuyển biến rõ nét ở 4 khâu.
Thứ nhất là, chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất, bao gồm canh tác, dinh dưỡng và phòng trừ dịch hại phù hợp với điều kiện sinh thái từng địa bàn.
Thứ hai là, áp dụng cơ giới hóa và các công cụ giám sát đơn giản, chi phí hợp lý để giảm phụ thuộc vào lao động thủ công và kiểm soát chất lượng đồng đều hơn.
Thứ ba là, đầu tư vào khâu sau thu hoạch, nhất là sơ chế tại chỗ, sấy, bảo quản, chiết xuất và chế biến sâu nhằm kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Thứ tư là, số hóa thông tin vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm, tiêu chuẩn hóa và thiết kế bao bì để sản phẩm đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối và người tiêu dùng.
Quan điểm được nhấn mạnh là không chạy theo công nghệ đắt tiền. Công nghệ chỉ thực sự phù hợp khi giải quyết đúng bài toán của địa phương, có thể sử dụng trong điều kiện thực tế và tạo ra hiệu quả kinh tế có thể đo lường. Khi công nghệ gắn với tiêu chuẩn sản phẩm và đầu ra thị trường, người dân mới có động lực áp dụng lâu dài, doanh nghiệp yên tâm đầu tư và đặc sản địa phương có điều kiện phát triển thành sản phẩm hàng hóa bền vững.
Cùng với lựa chọn công nghệ, quá trình chuyển giao cũng cần được tổ chức theo hướng đồng hành thay vì chỉ bàn giao thiết bị. Việc triển khai cần gắn với thiết kế mô hình, thử nghiệm, đo lường, điều chỉnh, đào tạo thực hành và hình thành lực lượng kỹ thuật tại chỗ. Mỗi mô hình cũng cần tính đến phương án quản lý thiết bị, bảo trì, thay thế linh kiện, sản lượng hòa vốn và đầu ra sản phẩm.

Từ thực tiễn của Lộc Thúy Quỳnh Farm, việc ứng dụng dây chuyền sản xuất công nghiệp để chế biến mì gạo thanh long đã giúp sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, thuận lợi hơn cho vận chuyển và phân phối, đồng thời mở ra hướng tham gia các chuỗi phân phối và xuất khẩu. Hợp tác xã cho biết đã ký với một đối tác Trung Quốc và sẵn sàng đưa sản phẩm vào chuỗi siêu thị của Hà Lan.
Điều này cho thấy đổi mới công nghệ ở khâu sản xuất cần được kết nối ngay từ đầu với yêu cầu của thị trường, thay vì chỉ tập trung nâng công suất hoặc tạo ra sản phẩm mới.
Nâng cao năng lực số, hình thành hệ sinh thái hỗ trợ
Nếu công nghệ sản xuất giúp nâng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, thì thương mại điện tử và các công cụ số đang mở rộng không gian thị trường. Tuy nhiên, theo các đại biểu, để tận dụng được cơ hội này, các chủ thể vùng cao không chỉ cần đưa sản phẩm lên nền tảng số mà phải tổ chức được toàn bộ quá trình kinh doanh trực tuyến.
Ông Bùi Quang Cường cho rằng sản phẩm tốt thôi chưa đủ. Chủ thể sản xuất cần quan tâm đến bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm, khách hàng mục tiêu, lựa chọn kênh bán hàng, định giá, nội dung, logistics, thanh toán và chăm sóc khách hàng.
Trong đó, truy xuất nguồn gốc và thông tin minh bạch ngày càng quan trọng bởi người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm mà còn mua niềm tin. Việc xác định đúng nhóm khách hàng cũng giúp chủ thể điều chỉnh sản phẩm, bao bì và thông điệp phù hợp, qua đó gia tăng giá trị thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Từ góc độ hệ sinh thái, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam xác định cần kết nối nền tảng, logistics, thanh toán, đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ để doanh nghiệp, hợp tác xã không phải tự xoay xở từng khâu.
Trong thời gian tới, ông Bùi Quang Cường cho biết, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam sẽ tổ chức triển khai các hoạt động nhằm nâng cao kỹ năng số và phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phối hợp với cơ quan quản lý, địa phương, trường đại học và các đơn vị liên quan để đào tạo, hỗ trợ chủ thể bán hàng chuyên nghiệp hơn; đồng thời đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới và chuẩn bị năng lực thích ứng với cạnh tranh toàn cầu.
Với những trao đổi tại tọa đàm cho thấy, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW cần được cụ thể hóa đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ tổ chức sản xuất, chế biến, bảo quản, kiểm soát chất lượng đến truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và các phương thức kinh doanh mới.
Quan trọng hơn, ứng dụng công nghệ không chỉ dừng ở việc đưa thêm máy móc hay nền tảng số về vùng cao. Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế; hỗ trợ thiết bị phải gắn với vùng nguyên liệu và thị trường; nâng cao kỹ năng số cần đi cùng khả năng tổ chức bán hàng và mở rộng kênh phân phối.
Để thực hiện được điều đó, cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, hiệp hội, nền tảng số, hợp tác xã và cộng đồng sản xuất. Khi công nghệ phù hợp được đưa đến đúng chủ thể, đổi mới trong sản xuất được kết nối với đổi mới trong thị trường, các đặc sản vùng cao sẽ có thêm điều kiện nâng cao năng suất, ổn định chất lượng, gia tăng giá trị và mở rộng đầu ra, qua đó góp phần nâng cao thu nhập và xây dựng sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
