Thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đang mở ra không gian phát triển mới cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Để biến lợi thế về không gian thành động lực phát triển, các địa phương cần tăng cường liên kết từ vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến phân phối và thị trường, qua đó nâng giá trị sản phẩm và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Mở rộng không gian kinh tế, hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn

Tại tọa đàm “Thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 18/9/2026, các đại biểu cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn đối với phát triển sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán. Vùng nguyên liệu manh mún, khoảng cách xa cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ, cùng chi phí logistics cao khiến sản phẩm khó hình thành nguồn cung đủ lớn, ổn định để tham gia sâu vào chuỗi phân phối.

tọa đàm “Thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 18/9/2026
Tọa đàm “Thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 18/9/2026.

Theo ông Nguyễn Minh Tiến - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sắp xếp lại các địa phương, hình thành những xã có quy mô lớn đang mở ra điều kiện thuận lợi hơn để tổ chức lại sản xuất và hình thành những vùng nguyên liệu đủ lớn.

Thực tiễn tại tỉnh Sơn La, Gia Lai cho thấy, khi hình thành được vùng sản xuất quy mô lớn và liên kết với doanh nghiệp đầu tàu, sản phẩm có điều kiện phát triển theo hướng hàng hóa, nâng cao khả năng tiêu thụ và tạo giá trị gia tăng. Việc tổ chức sản xuất theo chuỗi dọc giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cũng giúp mối liên kết từ vùng nguyên liệu đến thị trường chặt chẽ hơn.

Đáng chú ý, việc phân cấp, trao quyền chủ động cho cấp xã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quy hoạch vùng nguyên liệu, cấp mã số vùng trồng và hỗ trợ doanh nghiệp. Nếu trước đây doanh nghiệp phải làm việc với nhiều hộ dân và nhiều xã để hình thành vùng nguyên liệu, thì với không gian cấp xã mới có quy mô lớn hơn, doanh nghiệp có thể giảm chi phí, thời gian đàm phán và từng bước hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn.

Theo ông Nguyễn Minh Tiến, xúc tiến thương mại cần có tầm nhìn liên kết vùng, thay vì chủ yếu giới hạn trong phạm vi từng địa phương như trước đây
Ông Nguyễn Minh Tiến - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ông Nguyễn Minh Tiến cho biết, trước đây, tại một số địa bàn miền núi, quy mô vùng sản xuất rất nhỏ. Khi triển khai Chương trình OCOP và kết nối với các hệ thống phân phối lớn, hạn chế này bộc lộ khá rõ. Sản phẩm từ một xã vùng sâu có khi chỉ đủ một chuyến hàng vài trăm kg, khiến chi phí vận chuyển tăng cao và khó đáp ứng yêu cầu về sản lượng của các chuỗi phân phối.

Trong khi đó, tại Sơn La và Gia Lai, việc hình thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn đối với các sản phẩm như chanh dây, xoài đã tạo điều kiện để tổ chức sản xuất hàng hóa và tăng khả năng kết nối với doanh nghiệp. Cùng với tổ chức lại không gian sản xuất, hạ tầng giao thông tại nhiều khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ được cải thiện, giúp hệ thống phân phối tiếp cận vùng nguyên liệu thuận lợi hơn, giảm chi phí vận chuyển và tạo điều kiện ký kết các hợp đồng với sản lượng lớn.

Ông Tiến cho rằng, phát triển phải dựa trên việc hình thành các vùng nguyên liệu và mối liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp để tạo ra giá trị gia tăng. Đồng thời, cần tăng cường kết nối giữa các vùng sản xuất với những trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng - nơi có lợi thế về thị trường, tài chính, khoa học - công nghệ và hệ thống phân phối.

Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chỉ rõ, các mắt xích trong chuỗi giá trị đã hình thành nhưng chưa được kết nối hiệu quả. Vùng nguyên liệu nhỏ và phân tán, chi phí logistics cao, trong khi cơ sở chế biến nằm xa vùng nguyên liệu là những nguyên nhân cơ bản chia cắt chuỗi.

ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Theo ông Tô Hoài Nam, việc sắp xếp đơn vị hành chính cần được nhìn nhận không chỉ là sắp xếp địa giới mà còn là quá trình tổ chức lại không gian kinh tế, kết nối những lợi thế trước đây bị chia cắt để hình thành một không gian phát triển chung.

“Chúng ta phải hình dung đây là sắp xếp lại không gian kinh tế. Nó rất khác với sắp xếp lại địa giới hành chính trên bản đồ”, ông Tô Hoài Nam nhấn mạnh.

Theo đó, cần hình thành bản đồ chung về vùng nguyên liệu; trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch chung về vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, hạ tầng logistics và chiến lược thị trường. Đây là nền tảng để các địa phương khai thác tốt hơn những lợi thế bổ trợ, thay vì phát triển riêng lẻ.

Đổi mới xúc tiến thương mại theo không gian và hành vi thị trường

Không gian phát triển được mở rộng cũng đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức xúc tiến thương mại. Theo ông Nguyễn Minh Tiến, xúc tiến thương mại cần có tầm nhìn liên kết vùng, thay vì chủ yếu giới hạn trong phạm vi từng địa phương như trước đây.

Đặc biệt, cần phân loại sản phẩm để lựa chọn phương thức xúc tiến phù hợp. Một nhóm là các sản phẩm có vùng nguyên liệu lớn, sản xuất với quy mô hàng hóa như trái cây, rau, cà phê. Nhóm còn lại là các sản phẩm đặc sản quy mô nhỏ nhưng có giá trị gia tăng cao như sâm Ngọc Linh, hồi, quế. Với mỗi nhóm sản phẩm, cách thức tổ chức xúc tiến cần được thiết kế khác nhau.

ông Nguyễn Minh Tiến - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, xúc tiến thương mại cần có tầm nhìn liên kết vùng, thay vì chủ yếu giới hạn trong phạm vi từng địa phương như trước đây.

Các địa phương cũng cần chủ động đưa hoạt động xúc tiến ra ngoài địa bàn, hướng đến những trung tâm tiêu thụ lớn. Việc kết nối giữa các vùng không chỉ giúp mở rộng thị trường mà còn khai thác được sự bổ trợ về sản phẩm, năng lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng giữa các khu vực.

Cùng với các phương thức truyền thống như hội chợ, triển lãm, kết nối cung - cầu, ông Tiến nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kết nối với các hệ thống phân phối lớn và phát huy hệ thống logistics. Khi quy mô không gian kinh tế lớn hơn, các địa phương có điều kiện làm việc trực tiếp với các hệ thống phân phối để đưa sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến gần hơn với người tiêu dùng.

Đáng chú ý, thương mại điện tử và mạng xã hội đang mở ra một hướng tiếp cận mới, đặc biệt với cấp xã. Theo ông Tiến, quy mô vùng nguyên liệu lớn hơn, sản phẩm đa dạng hơn giúp các xã có điều kiện duy trì những kênh bán hàng trực tuyến thay vì chỉ phụ thuộc vào các hoạt động hội chợ, triển lãm vốn đòi hỏi nhiều nguồn lực và chi phí đi lại.

Vai trò của cấp xã cũng được đặt ở vị trí quan trọng bởi đây là cấp chính quyền trực tiếp gắn với người dân, hợp tác xã và vùng sản xuất. Cán bộ cấp xã có điều kiện kể câu chuyện về nguồn gốc, quá trình sản xuất và những người trực tiếp tạo ra sản phẩm.

Việc hỗ trợ chính quyền cấp xã, hợp tác xã và người dân mở các kênh thương mại điện tử cũng được ông Tiến nhìn nhận là một hình thức cụ thể của chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại. Các cơ quan chức năng có thể hỗ trợ từ đào tạo, nâng cao năng lực đến những vấn đề kỹ thuật như đóng gói, mở kênh và thanh quyết toán.

Thực tế này cũng cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận xúc tiến thương mại: không chỉ đưa sản phẩm đến hội chợ hay điểm giới thiệu, mà cần đưa vùng sản xuất, người sản xuất và câu chuyện sản phẩm đến trực tiếp với người tiêu dùng thông qua các nền tảng số.

Liên kết bền vững, nâng vị thế người sản xuất

Nếu mở rộng không gian phát triển là điều kiện cần, thì xây dựng mối liên kết bền vững giữa các chủ thể là yếu tố quyết định để chuỗi giá trị vận hành hiệu quả.

Theo ông Tô Hoài Nam, trong một chuỗi giá trị có thể có nhiều vùng, nhiều địa phương cùng tham gia. Mỗi địa phương cần phát huy thế mạnh riêng theo cơ chế thị trường: vùng nguyên liệu tốt tập trung làm nguyên liệu, địa bàn có lợi thế logistics phát huy logistics, nơi có cảng biển thuận lợi đảm nhận vai trò kết nối hàng hóa.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có một tổ chức đủ uy tín và năng lực đứng ra kết nối các chủ thể. Các bên cần thống nhất tiêu chuẩn, cam kết về đơn hàng, thị trường và nguyên tắc phối hợp; đồng thời bảo đảm việc truy xuất, bảo vệ và duy trì mã vùng nguyên liệu.

Liên kết cũng cần vượt khỏi quan hệ mua bán ngắn hạn. Theo ông Tô Hoài Nam, giá là một yếu tố quan trọng để duy trì liên kết. Các cơ quan quản lý cần nghiên cứu, tính toán để xây dựng giá cơ sở, qua đó tạo nền tảng cho các bên thống nhất và chia sẻ lợi ích.

Cùng với đó, người dân và doanh nghiệp nhỏ cần được tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào các khâu sơ chế, chế biến, dịch vụ du lịch, trải nghiệm và thương mại để nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập. Với các sản phẩm đặc sản, giá trị hàng hóa cần được gắn với trải nghiệm và bản sắc văn hóa của địa phương.

Thực tiễn từ Tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh chè Tán Ma Hiền Kiệt ở Thanh Hóa cho thấy, liên kết từ cơ sở có thể tạo ra những chuyển biến cụ thể. Theo bà Lộc Thị Thoa, đại diện Tổ hợp tác, từ khi hình thành tổ hợp tác, các hộ trồng chè đã cùng liên kết nguyên liệu, hỗ trợ nhau trong chăm sóc, thu hái, đóng gói, đồng thời thống nhất đơn giá và chất lượng sản phẩm.

Tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh chè Tán Ma Hiền Kiệt ở Thanh Hóa cho thấy, liên kết từ cơ sở có thể tạo ra những chuyển biến cụ thể. Theo bà Lộc Thị Thoa
Bà Lộc Thị Thoa - Đại diện Tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh chè Tán Ma Hiền Kiệt (Thanh Hóa).

Việc tập hợp diện tích chè cũng giúp người dân thay đổi nhận thức, biết giữ gìn diện tích chè và khai thác hợp lý nguồn nguyên liệu tại địa phương. Chè Tán Ma không chỉ là hàng hóa mà còn gắn với đời sống văn hóa và sinh kế truyền thống của đồng bào địa phương.

Tuy nhiên, tổ hợp tác vẫn gặp nhiều khó khăn về máy móc, cơ sở chế biến, kho đóng gói, bảo quản, quy mô sản xuất, vận chuyển và kết nối với các nhà phân phối. Đầu ra hiện chủ yếu dựa vào thị trường trong tỉnh và khách hàng quen.

Thời gian tới, tổ hợp tác dự kiến tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu, vận động thêm các hộ gia đình tham gia, nâng cao chất lượng chế biến và đa dạng hóa sản phẩm. Đồng thời, mong muốn được hỗ trợ về vốn, khoa học - kỹ thuật, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và kết nối với doanh nghiệp, siêu thị, các kênh phân phối.

“Điều quan trọng nhất không chỉ là bán được chè mà là làm sao để chè trở thành sinh kế bền vững cho người dân”, bà Lộc Thị Thoa chia sẻ.

Ở cấp độ kết nối doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam cho biết Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý, chủ động kết nối các chủ thể, phản ánh vướng mắc từ thực tiễn và tham gia xây dựng chính sách.

ông Tô Hoài Nam cho biết Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý, chủ động kết nối các chủ thể, phản ánh vướng mắc từ thực tiễn và tham gia xây dựng chính sách.
Ông Tô Hoài Nam cho biết Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý, chủ động kết nối các chủ thể, phản ánh vướng mắc từ thực tiễn và tham gia xây dựng chính sách.

Theo ông, Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho những hạ tầng dùng chung như quy hoạch, dữ liệu và kết nối; trong khi doanh nghiệp tập trung vào thương mại và hệ thống phân phối. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần được hỗ trợ thiết thực hơn trong tiếp cận tín dụng, cơ chế bảo lãnh, thông tin về sản xuất và tín hiệu thị trường.

Hiệu quả hỗ trợ, theo ông Tô Hoài Nam, không nên chỉ được đo bằng số lượng hội nghị hay hoạt động kết nối được tổ chức, mà cần nhìn vào khả năng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và người dân tham gia sâu hơn, có vị trí vững vàng hơn trong chuỗi giá trị, đặc biệt là tăng tỷ lệ chế biến sâu.

Ở góc độ xúc tiến thương mại, ông Nguyễn Minh Tiến cho rằng xúc tiến thương mại cũng phải được tiếp cận theo chuỗi, theo hệ thống, không chỉ là khâu cuối cùng. Hoạt động xúc tiến cần thu thập thông tin về nhu cầu, biến động thị trường và kết nối ngược trở lại với sản xuất, chế biến, phân phối.

Trong đó, hợp tác xã có vai trò quan trọng trong việc tập hợp những hộ sản xuất quy mô nhỏ, tạo sự gắn kết trong toàn chuỗi. Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp sẽ tiếp tục tăng cường kết nối với các địa phương, đặc biệt là cấp xã và hợp tác xã, thông qua kết nối cung - cầu, hội chợ, triển lãm và liên kết sản phẩm giữa các vùng, miền.

Một nhiệm vụ khác được nhấn mạnh là xây dựng hệ thống dữ liệu chung và kết nối trên nền tảng số, bảo đảm dữ liệu “đúng, sạch, đủ”. Khi dữ liệu về quy mô sản xuất, nhu cầu thị trường, nguồn cung và sản phẩm được kết nối, các chủ thể có thể phối hợp hiệu quả hơn, qua đó tạo ra giá trị gia tăng mới.

Cùng với đó, cần tăng cường sự tham gia của các hiệp hội trong xây dựng chính sách, kết nối dữ liệu, cung cấp thông tin, chia sẻ thị trường và đào tạo, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước tiếp cận những yêu cầu mới của thị trường như sản phẩm Halal, nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và thị trường tín chỉ carbon.

Hạ Vĩ