Tóm tắt:
Bài viết nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về định giá tài sản là động vật hoang dã trong việc giải quyết vụ án hình sự, cụ thể về phương pháp định giá. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá những hạn chế trong thực tiễn, bài viết đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật trên cơ sở học tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã.
Từ khóa: động vật hoang dã, phương pháp định giá tài sản, tố tụng hình sự.
1. Đặt vấn đề
Tại Việt Nam, lợi nhuận và doanh thu hàng năm từ buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) bất hợp pháp ước tính lần lượt là 21 triệu USD và 66,5 triệu USD1. Đây là tội phạm xuyên quốc gia lớn thứ tư trên thế giới, chỉ sau mua bán ma túy, mua bán người và hàng giả2. Giá trị ước tính hàng năm của hoạt động buôn bán ĐVHD xuyên quốc gia là từ 5 tỷ USD đến 23 tỷ USD3.
Hoạt động định giá tài sản (ĐGTS) là ĐVHD đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm về ĐVHD. Tuy vậy, việc định giá ĐVHD chưa có một văn bản pháp luật riêng hoặc chế định riêng để điều chỉnh mà được thực hiện theo quy định chung về ĐGTS trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) và Nghị định số 250/2025/NĐ-CP4. Đặc biệt, các phương pháp ĐGTS là ĐVHD là những vấn đề còn nhiều bất cập từ quy định pháp luật đến thực tiễn áp dụng.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Khái niệm về phương pháp định giá tài sản là động vật hoang dã trong tố tụng hình sự
Hiện nay, BLTTHS năm 2015 chưa đưa ra định nghĩa về định giá tài sản nói chung và ĐGTS là ĐVHD nói riêng. Việc nghiên cứu và đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai các hoạt động ĐGTS là ĐVHD, bao gồm phương pháp ĐGTS là ĐVHD. Trước khi xây dựng khái niệm phương pháp ĐGTS là ĐVHD, cần phải hiểu rõ một số tiểu khái niệm quan trọng sau:
Thứ nhất, về khái niệm ĐVHD. Dưới góc độ pháp luật quốc tế, các công ước và tổ chức quốc tế thường định nghĩa “ĐVHD” bao gồm tất cả các loài động vật, thực vật và một số loài khác có trong tự nhiên. Theo ICCWC: “Tất cả các loài động thực vật hoang dã, bao gồm động vật, chim và cá, cũng như gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ”5. Trong khi đó, CITES6 không có khái niệm về ĐVHD mà tại Nghị quyết của Hội nghị các bên tham gia CITES lần thứ 19 đã đưa ra định nghĩa quần thể hoang dã (wild population) là “tổng số cá thể sống tự do của một loài trong khu vực phân bố của nó”7. Công ước về đa dạng sinh học (CBD)8 cho rằng ĐVHD là“Động vật sống, không được thuần hóa. Một số chuyên gia cũng coi thực vật là một phần của ĐVHD”9.
Khác với pháp luật quốc tế, Việt Nam quy định khái niệm ĐVHD rất rộng10, không chỉ bao gồm các loài sinh sống, phát triển trong tự nhiên mà còn bao gồm các loài sinh sống, phát triển trong môi trường nhân tạo và cả động vật nuôi trong môi trường có kiểm soát mà không phải là vật nuôi theo định nghĩa của Luật Chăn nuôi năm 201811. Ngoài ra, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 84/2021 đã liệt kê 5 nhóm loài ĐVHD. Trong 5 nhóm loài ĐVHD nêu trên chỉ 4 nhóm đầu tiên được pháp luật hình sự bảo vệ12. Cụ thể, thông qua việc quy định các hành vi tác động trái phép đến chúng bị xem là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo nhiều tội danh như: Tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD (Điều 234 BLHS năm 2015); tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS năm 2015); tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS năm 2015); tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS năm 2015); tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242 BLHS năm 2015).
Như vậy, về mặt bản chất và pháp lý, tác giả rút ra “ĐVHD13 là những loài động vật sinh sống, phát triển theo quy luật tự nhiên, có giá trị đặc biệt về kinh tế, y tế, khoa học và môi trường được quy định trong các văn bản của Nhà nước hoặc các văn kiện quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. ĐVHD ở đây bao gồm cá thể động vật, bộ phận cơ thể và sản phẩm của chúng”.
Thứ hai, về khái niệm định giá. Dưới góc độ pháp luật nói chung, hiện nay khái niệm “định giá” chỉ được quy định tại Điều 4 Luật Giá năm 2023: “Định giá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện xác định giá của hàng hoá, dịch vụ”. Mặc dù định nghĩa này đã thể hiện bản chất của hoạt động định giá nhưng vẫn chưa bao hàm chủ thể định giá hay đối tượng định giá trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
Trong tư pháp hình sự, hiện nay khái niệm “ĐGTS” chỉ được diễn giải qua các công trình nghiên cứu khoa học. Do đó, khái niệm này có nhiều cách hiểu, giải thích khác nhau. Về giáo trình, sách bình luận BLTTHS, Giáo trình Luật Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận: “ĐGTS là hoạt động điều tra được tiến hành khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT)”14. Cùng quan điểm, tác giả Phạm Mạnh Hùng (2023) giải thích trong sách bình luận khoa học BLTTHS như sau:“ĐGTS trong tố tụng hình sự là việc đánh giá, kết luận về giá của tài sản được cơ quan có thẩm quyền THTT ra văn bản yêu cầu định giá để giải quyết vụ án hình sự”15. Như vậy, cả 2 định nghĩa trên đều chưa nêu rõ chủ thể tiến hành hoạt động ĐGTS. Nhằm làm rõ về vấn đề chủ thể, có quan điểm cho rằng ĐGTS là hoạt động do Hội đồng ĐGTS tiến hành, còn hoạt động điều tra nên được hiểu là hoạt động do các cơ quan có thẩm quyền THTT tiến hành16. Tác giả cũng đồng tình với quan điểm này và cho rằng nên hiểu tách bạch hoạt động “yêu cầu ĐGTS” là hoạt động điều tra của cơ quan có thẩm quyền THTT17, còn hoạt động “ĐGTS” là hoạt động TTHS. Bởi vì khác với pháp luật tố tụng dân sự quy định Hội đồng ĐGTS chỉ được thành lập theo quyết định của Tòa án trong một số trường hợp, những trường hợp khác xác định giá theo thỏa thuận của các bên18; trong mọi trường hợp cần xác định giá trong vụ án hình sự đều cần thông qua Hội đồng ĐGTS. Vì vậy, việc làm rõ chủ thể sẽ tiến hành hoạt động ĐGTS trong vụ án hình sự là cần thiết. Trong khi đó, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội có chỉ ra khái niệm “ĐGTS” là biện pháp điều tra và có một số chủ thể tiến hành hoạt động ĐGTS, cụ thể: “ĐGTS là biện pháp điều tra của cơ quan điều tra, viện kiểm sát khi xét thấy cần thiết phải có kết luận ĐGTS về một vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự đang được tiến hành giải quyết”19. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa phân biệt rõ ràng chủ thể yêu cầu ĐGTS và chủ thể tiến hành ĐGTS; đồng thời thiếu đi chủ thể là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Tòa án trong hoạt động ĐGTS20. Ngoài ra, khái niệm trên cũng chưa nêu được mục đích cụ thể của cơ quan có thẩm quyền THTT khi yêu cầu ĐGTS là muốn xác định giá trị tài sản và có kết luận ĐGTS là hình thức thể hiện giá trị này.
Từ những đánh giá, phân tích trên, tác giả cho rằng, BLTTHS năm 2015 cần bổ sung khái niệm ĐGTS theo hướng:“ĐGTS là hoạt động TTHS do Hội đồng ĐGTS thực hiện nhằm xác định giá trị của tài sản theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền THTT làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.
Mở rộng ra, ĐGTS nói chung hay ĐGTS là ĐVHD nói riêng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng nhằm đảm bảo sự chính xác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như xác định dấu hiệu tội phạm ban đầu, làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự… Hiện nay, khái niệm “ĐGTS là ĐVHD” chưa được ghi nhận trong pháp luật hiện hành của Việt Nam.
Từ khái niệm “ĐGTS” và “ĐVHD” đã phân tích ở trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau:“ĐGTS là ĐVHD là hoạt động TTHS do Hội đồng ĐGTS thực hiện nhằm xác định giá trị của các cá thể động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của chúng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền THTT làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.
Hiện tại, BLTTHS năm 2015 không có quy định về khái niệm, nội dung, trình tự thủ tục của phương pháp định giá. Tuy nhiên, khái niệm phương pháp định giá tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 250/2025 như sau:“Phương pháp ĐGTS là những cách thức để tiến hành xác định giá trị bằng tiền của tài sản cần định giá”. Ngoài ra, phương pháp định giá còn là một trong các căn cứ ĐGTS21.
2.2. Quy định về phương pháp định giá tài sản là động vật hoang dã trong tố tụng hình sự
Tại Điều 23 của Nghị định số 250/2025 đã có quy định cụ thể về phương pháp ĐGTS, bao gồm trường hợp tài sản là ĐVHD, tác giả đúc kết lại như sau:
Thứ nhất, phương pháp định giá quy định tại pháp luật chuyên ngành liên quan đến tài sản cần định giá. Phương pháp này đặt ra yêu cầu về quy định chi tiết liên quan đến cách thức tính ĐVHD (cá thể nguyên vẹn, còn sống hay đã chết, sản phẩm được làm từ ĐVHD,…).
Thứ hai, phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá quy định tại pháp luật về giá. Bởi vì ĐVHD thường là dữ liệu giao dịch ít công khai vì thuộc trường hợp là hàng cấm nên khó áp dụng. Do đó, việc sử dụng phương pháp so sánh phải làm rõ “tài sản tương tự” so sánh, thời điểm, địa điểm, điều kiện tang vật phải tương đương.
Thứ ba, phương pháp chuyên biệt dựa vào giá khu vực hay quốc tế (specialised method)22: khi dữ liệu nội địa thiếu và tang vật là loài bị cấm, giao dịch ngầm, thì có thể tham khảo giá quốc tế hoặc giá khu vực, hoặc giá của tài sản tương tự được phép lưu hành và sau đó điều chỉnh về thời gian và địa điểm được yêu cầu định giá.
Thứ tư, Hội đồng ĐGTS xác định giá tài sản là ĐVHD dựa trên hồ sơ của tài sản, kết quả khảo sát, thu thập thông tin, liên quan đến tài sản là ĐVHD cần định giá. Mặt khác, theo quy định Hội đồng ĐGTS có thể dựa vào “giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp”23, để làm cơ sở xác định giá trị của ĐVHD theo yêu cầu định giá của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo thống kê của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV)24, cả nước có 15 doanh nghiệp có khả năng thẩm định giá đối với ĐVHD. Đây cũng là một con số hạn chế để đáp ứng nhu cầu định giá ĐVHD trong giải quyết vụ án hình sự. Sau khi nhận được đề nghị thẩm định giá, các doanh nghiệp thẩm định giá sẽ tiến hành định giá và cung cấp lại kết quả cho Hội đồng ĐGTS. Tuy nhiên, cơ sở để Hội đồng ĐGTS kiểm tra lại giá do các doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp là gì trong khi HĐĐGTS vốn đã gặp khó khăn khi tiến hành định giá dựa trên các căn cứ luật định? Những vấn đề trên đã tác động không nhỏ đến việc xác định đúng giá trị của ĐVHD nhằm giải quyết vụ án hình sự 25.
Như vậy, quy định về phương pháp định giá ĐVHD ở Việt Nam vẫn còn chung chung, trong khi đó, ĐVHD là một đối tượng đặc biệt, khác với những loại tài sản khác nên cần có phương pháp định giá riêng. Việc thiếu phương pháp định giá chuyên biệt với đối tượng này có thể dẫn đến thực tiễn áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, còn một số hạn chế sau: (1) thiếu dữ liệu thị trường do tính chất là hàng cấm của ĐVHD, (2) thiếu sự thống nhất trong việc xác định giá giữa các địa phương, (3) hạn chế trong việc áp dụng phương pháp định giá gián tiếp. Do đó, cần hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam và cơ chế định giá nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan cho quá trình giải quyết vụ án hình sự liên quan đến ĐGTS là ĐVHD.
3. Kết luận và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về phương pháp định giá tài sản là động vật hoang dã
Thứ nhất, xây dựng khung giá trị tiêu chuẩn đối với ĐVHD
ĐVHD là loại hàng cấm, không được phép lưu hành hợp pháp trên thị trường, nên pháp luật không thể quy định giá giao dịch chính thức cho từng loài26. Tuy nhiên, chính đặc thù này lại đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một khung giá trị tiêu chuẩn làm cơ sở cho hoạt động định giá trong TTHS. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp ban hành văn bản hướng dẫn riêng biệt về định giá ĐVHD (bên cạnh những văn bản hướng dẫn hiện hành về ĐGTS nói chung27).
Tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, văn bản này cần đảm bảo 2 nội dung: (i) Xây dựng khung giá trị tiêu chuẩn của ĐVHD (bao gồm cả ĐVHD trên cạn và thủy sản) để áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước; (2) Cụ thể hóa phương pháp xác định giá trị ĐVHD và sản phẩm của chúng dựa trên các giá trị tiêu chuẩn đã ban hành. Đối với việc xác định các hệ số của sản phẩm ĐVHD (hệ số mức độ bảo vệ, nguồn gốc loài, giai đoạn phát triển, bộ phận cơ thể), cần có những nghiên cứu chuyên sâu kết hợp khảo sát thực tiễn và tham khảo thêm kinh nghiệm nước ngoài để tăng độ chính xác, khả thi. Tuy nhiên, cần khắc phục điểm hạn chế trong cách tiếp cận của Trung Quốc trong việc xác định hệ số bộ phận cơ thể, đó là cần quy định rõ hệ số tương ứng với danh mục các bộ phận phổ biến, không nên giao cho các cơ quan định giá tự quyết. Tương tự như Trung Quốc, quy định về phân hóa mức độ bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam hiện nay là điều kiện thuận lợi để triển khai xây dựng khung giá trị tiêu chuẩn cho ĐVHD. Cần lưu ý, sau khi được thông qua, khung giá trị tiêu chuẩn cần được cập nhật định kỳ để đảm bảo phù hợp với biến động giá thị trường và trượt giá khi có lạm phát28.
Thứ hai, bổ sung và hoàn thiện các căn cứ định giá ĐVHD
Pháp luật Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ Hoa Kỳ trong việc đa dạng hóa căn cứ định giá, không chỉ giới hạn ở giá thị trường: giá thay hoặc phục hồi, giá từ việc mua lại và chế biến, giá thiệt hại về mặt sinh thái và bảo tồn của ĐVHD đó. Để triển khai các phương pháp, cần phải nghiên cứu chi phí nhân/gây giống (breeding cost)29. Phương pháp này không chỉ góp phần hỗ trợ công tác bảo tồn các loài quý hiếm mà còn tạo ra cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ hoạt động định giá trong trường hợp không tồn tại thị trường hợp pháp.
Mặt khác, như đã đề cập, hạn chế thực tiễn ĐGTS là ĐVHD đến từ việc không có mẫu loài ĐVHD đó tại Việt Nam để tiến hành định giá. Nhằm khắc phục vấn đề này, Việt Nam có thể mở rộng phương pháp ĐGTS, việc định giá ĐVHD được thực hiện thông qua các phương pháp liên ngành của Cộng hòa Liên bang Nga, bao gồm: (i) phương pháp sinh học như phân tích hình thái và phân loại học nhằm xác định chính xác loài; (ii) phương pháp di truyền học (DNA) để truy vết nguồn gốc và xác nhận mẫu vật; (iii) phương pháp giám định tổng hợp kết hợp các lĩnh vực động vật học, thú y và dấu vết học; và (iv) các phương pháp định giá kinh tế như so sánh thị trường, chi phí hoặc thu nhập, trong chừng mực có thể áp dụng30.
Các giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động định giá trong TTHS nói chung mà còn về phương pháp ĐGTS là ĐVHD nói riêng. Kết quả nghiên cứu của bài viết cũng đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo theo hướng chuyên sâu hơn, đặc biệt là các công trình so sánh về thẩm quyền và thủ tục định giá tài sản là ĐVHD trong TTHS Việt Nam.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN và tham khảo
1 Pham Thu Thuy et all (2021), The Economic Value of the Wildlife Trade in Vietnam, 336 CIFOR infobriefs 1, 2, https://www.cifor-icraf.org/knowledge/publication/8098.
2 ASEAN Secretariat, ASEAN Handbook on Legal Cooperation to Combat Illegal Wildlife Trade (ASEAN 2021), tr. 10.
3 Channing May (GFI, 2017), Transnational Crime and the Developing World, tr. 53.
4 Nghị định số 250/2025/NĐ-CP ngày 22/9/2025 quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng ĐGTS; trình tự, thủ tục ĐGTS trong tố tụng hình sự đã có những quy định mới nhất liên quan về hoạt động ĐGTS, trong đó có đối tượng là ĐVHD.
5 Hiệp hội quốc tế về chống tội phạm ĐVHD (International Consortium on Combating Wildlife Crime - ICCWC, https://www.iccwc-wildlifecrime.org/our-focus-wildlife-and-forest-crime.
6 Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động vật và thực vật hoang dã nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora - CITES).
7 CITES, Resolution Conf. 9.24 (Rev. CoP17), Annex 5, https://cites.org/eng/res/index.php.
8 Công ước về đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity - CBD).
9 CBD, https://www.cbd.int/cepa/toolkit/2008/doc/cbd-toolkit-glossaries.pdf, p.292.
10 Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ban hành ngày 22/9/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp: “Động vật hoang dã, thực vật hoang dã là những loài động vật, thực vật sinh sống, phát triển trong sinh cảnh tự nhiên, nhân tạo hoặc loài động vật, thực vật được nuôi, trồng trong môi trường có kiểm soát nhưng không phải là vật nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi, thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
c) Loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc các Phụ lục của CITES;
d) Loài động vật rừng thông thường;
đ) Loài động vật trên cạn khác thuộc lớp chim, thú, bò sát, lưỡng cư, trừ một số loài thuộc Danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan công bố”.
11 Theo giải thích tại các khoản 5, 8 Điều 2 của Luật Chăn nuôi năm 2018 thì vật nuôi “bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi”. Động vật khác trong chăn nuôi “là động vật ngoài gia súc, gia cầm và ngoài Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, động vật rừng thông thường, động vật thủy sản, danh mục động vật rừng hoang dã thuộc Phụ lục của CITES”.
12 Những hành vi vi phạm đối với Nhóm loài ĐVHD thứ 5 (ĐVHD trên cạn khác) trị giá từ 300.000.000 đồng trở lên thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính theo “khung tiền phạt cao nhất như đối với động vật rừng thông thường; áp dụng hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với khung phạt đó”: Xem khoản 4 Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; thú y; chăn nuôi.
13 Thuật ngữ “ĐVHD” trong toàn bộ luận văn này được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiêm; các loài ĐVHD nguy cấp thuộc các Phụ lục Công ước CITES; các loài động vật rừng thông thường; các loài động vật trên cạn khác thuộc lớp chim, thú, bò sát, lưỡng cư (khoản 4 Điều 1 Nghị định số 84/2021/NĐ-CP).
14 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự (tái bản, có sửa đổi, bổ sung, 2018), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.460.
15 Phạm Mạnh Hùng (2023), Sách bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đối, bổ sung năm 2021 (tái bản lần thứ hai, có chỉnh sửa, bổ sung), NXB Lao động, tr.440.
16 Nguyễn Phương Thảo (Chủ biên) (2025), Định giá tài sản theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.5.
17 Điều 19 BLTTHS năm 2015: “Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này.”
Điều 42 BLTTHS năm 2015: “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS có những nhiệm vụ, quyền hạn: ...i) trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này.”
Điều 252 BLTTHS năm 2015: “Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động:…”
18 Điều 104 BLTTDS năm 2015.
19 Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2023), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Tái bản lần thứ nhất, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.379.
20 Khoản 1 Điều 215 BLTTHS năm 2015: “Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền THTT ra văn bản yêu cầu ĐGTS.”
21 Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 250/2025.
22 Điểm c khoản 2 Điều 20 Nghị định số 250/2025.
23 Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (EVN), Hướng dẫn thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã năm 2023, https://thiennhien.org/uploads/law-guidance-2022-july-1-2022-final.pdf.
24 Nguyễn Phương Thảo (Chủ biên) (2024), Định giá tài sản theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.177.
25 Lê Huỳnh Tấn Duy (2023). Báo cáo rà soát quy định của pháp luật tố tụng hình sự áp dụng trong giải quyết các vụ án liên quan đến động vật hoang dã tại Việt Nam của WCS, Hà Nội, tr.26.
26 Nghị định số 250/2025/NĐ-CP.
27 Nguyễn Phương Thảo (2025), “Phương pháp định giá động vật hoang dã trong giải quyết vụ án hình sự ở Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 10, tr.77.
28 Engeman, Richard M.; Shwiff, Stephanie A.; Smith, Henry T.; and Constantin, Bernice (2002), Monetary valuation methods for economic analysis of the benefit-costs of protecting rare wildlife species from predators, USDA National Wildlife Research Center - Staff Publications, tr.142.
29 Chernyshov, V.V. (2023), The Place of Forensic Appraisal Expertise in the Classification System of Forensic Expertise, Russian Journal of Legal Studies.
Valuation methods for wildlife as assets under Vietnam’s Law on Criminal Procedure
Nguyen Thuy Linh
Postgraduate student, Ho Chi Minh City University of Law
Email: linhthuynguyen104@gmail.com
Abstract:
This study examines Vietnamese legal regulations on the valuation of wildlife as assets in criminal cases, with particular emphasis on applicable valuation methods. Based on an assessment of practical shortcomings and comparative insights from selected jurisdictions, the study proposes legal improvements aimed at enhancing the effectiveness of handling criminal cases involving wildlife.
Keywords: wildlife, property valuation methods, criminal proceeding
