Bộ Công Thương phê duyệt Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030

Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030 của Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 tăng trưởng xuất khẩu duy trì ở mức bình quân 5-6%/năm trong cả giai đoạn, đảm bảo thặng dư thương mại ổn định...

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân đã ký Quyết định số 3733/QĐ-BCT ngày 24/12/2025 ban hành Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030.

Theo đó, Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả xuất khẩu một cách bền vững, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng trưởng cả về quy mô lẫn chất lượng; tăng tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu, phát triển mạnh các ngành công nghệ trung bình và cao; nâng cao giá trị gia tăng nội địa (DVA), giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu; phát triển mạnh mẽ thương hiệu quốc gia và thương hiệu ngành hàng, xây dựng hình ảnh quốc gia về sản phẩm đáng tin cậy, bền vững và thông minh.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

(i) Tăng trưởng xuất khẩu duy trì ở mức bình quân 5-6%/năm trong cả giai đoạn 2026 - 2030, đảm bảo thặng dư thương mại ổn định;

(ii) Cơ cấu xuất khẩu: Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo xuất khẩu đạt 90%, trong đó, tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ trung bình và cao đạt ít nhất 70%;

(iii) Năng lực hệ thống xúc tiến thương mại: 100% cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh đạt điểm Chỉ số đánh giá năng lực cơ quan xúc tiến thương mại cấp tỉnh (TPCI) từ 75/100 điểm trở lên;

(iv) Chuyển đổi số: Xây dựng và đưa vào vận hành chính thức Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số quốc gia (National Digital Trade Promotion Platform), đảm bảo kết nối liên thông dữ liệu từ trung ương đến địa phương, tích hợp các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ chuỗi khối (blockchain) và sàn giao dịch B2B xuyên biên giới.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân vừa ký Quyết định số 3733/QĐ-BCT ngày 24/12/2025 về việc ban hành Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030.
Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2026 - 2030

Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2030 được nêu cụ thể:

Thứ nhất, đa dạng hóa thị trường và nâng cao hiệu quả khai thác hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong đó, đối với các thị trường truyền thống (Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN): tiếp tục củng cố và nâng cấp thâm nhập, tập trung vào phân khúc trung - cao cấp, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. Đối với các thị trường tiềm năng (Anh, Canada, Australia, Ấn Độ, UAE, Ả-rập Xê-út, Mexico, Nam Mỹ, Châu Phi, Halal): tăng cường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo cụm ngành hàng, triển khai nghiên cứu thị trường chuyên sâu, mở rộng mạng lưới đối tác. Nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA: Đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt cho các FTA thế hệ mới(CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP,…)

Thứ hai, đẩy mạnh Chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Phát triển thị trường nội địa thành trụ cột chiến lược, kích cầu tiêu dùng bền vững. Nhân rộng mô hình Hội chợ Quốc gia quy mô lớn kết hợp đa mục tiêu: xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch, văn hóa. Thúc đẩy mạnh mẽ thương mại điện tử và hệ thống bán lẻ hiện đại để đưa hàng Việt tiếp cận sâu rộng người tiêu dùng.

Thứ ba, phát triển Hệ thống xúc tiến thương mại quốc gia gắn kết - hiện đại - chuyên nghiệp. Nghiên cứu xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp xúc tiến thương mại liên ngành, phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Nghiên cứu xây dựng, đề xuất mô hình tham khảo về vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của Trung tâm xúc tiến thương mại địa phương. Xây dựng mạng lưới chuyên gia xúc tiến thương mại theo ngành và thị trường.

Thứ tư, nâng cao năng lực cho các Hiệp hội ngành hàng (BSOs) và Trung tâm xúc tiến thương mại địa phương (TPOs). Triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn bền vững. Hỗ trợ tư vấn trực tiếp cho doanh nghiệp thay đổi tư duy và năng lực sản xuất - kinh doanh.

Thứ năm, số hóa cơ sở dữ liệu và quản lý mạng lưới xúc tiến thương mại. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về xúc tiến thương mại liên thông, tập trung. Số hóa việc quản trị Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại.

Thứ sáu, tăng cường hạ tầng xúc tiến thương mại. Khuyến khích các địa phương quy hoạch và đầu tư phát triển cơ sở vật chất phục vụ xúc tiến thương mại như trung tâm hội chợ triển lãm, hội nghị quốc tế, khu trải nghiệm sản phẩm. Kết nối hạ tầng xúc tiến thương mại với hạ tầng giao thông, logistics để tạo thành mạng lưới liên vùng liền mạch.

Thứ bảy, xây dựng Chương trình doanh nghiệp dẫn dắt ngành hàng (Leading Corporations & SMEs Pioneers). Lựa chọn và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn dẫn dắt chuỗi giá trị và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiên phong tham gia Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế” (Go Global). Hỗ trợ toàn diện chuỗi cung ứng: thượng nguồn (nguyên liệu, thiết kế), trung nguồn (sản xuất thông minh, chuyển đổi số), hạ nguồn (thương hiệu, phân phối, hậu cần).

Thứ tám, xây dựng Bộ nhận diện xuất khẩu gắn với hình ảnh quốc gia. Thiết lập và áp dụng thống nhất Bộ nhận diện xuất khẩu quốc gia cho các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài. Xây dựng, phát triển và áp dụng bộ nhận diện xuất khẩu cho các ngành hàng.

Thứ chín, xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại theo ngành hàng/địa phương. Các địa phương và hiệp hội căn cứ vào Kế hoạch này để xây dựng kế hoạch chi tiết, phù hợp với thế mạnh và đặc thù của mình, bảo đảm tính đồng bộ và tránh chồng chéo.

Các giải pháp chủ yếu

Để thực hiện Kế hoạch, Bộ Công Thương xác định các giải pháp chủ yếu:

(i) Đổi mới toàn diện Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại: Nâng cấp, đổi mới toàn diện nội dung, cách thức thực hiện; Đơn giản hóa tối đa hồ sơ thủ tục hỗ trợ; Tăng định mức và tỷ lệ hỗ trợ tiệm cận với thực tế thị trường.

(ii) Xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành trong hệ thống xúc tiến thương mại: Xác định rõ vai trò điều phối của Bộ Công Thương và trách nhiệm phối hợp của các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội; Thiết lập nguyên tắc chia sẻ thông tin, dữ liệu thống nhất trên nền tảng số chung.

(iii) Phát triển Thương hiệu Quốc gia và thương hiệu ngành hàng: Nâng cấp Chương trình Thương hiệu Quốc gia, lồng ghép các tiêu chí xanh, số và bền vững; Hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh; Hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là SMEs, về quản trị thương hiệu, marketing số và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

(iv) Phối hợp chặt chẽ với hoạt động ngoại giao kinh tế: Thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao, hệ thống cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Lồng ghép nội dung xúc tiến thương mại vào các chuyến thăm cấp cao, đối thoại kinh tế để tháo gỡ rào cản, mở cửa thị trường.

Chi tiết, xem tại đây.

Huyền My