Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Bài báo nghiên cứu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang" do Trần Hồng Bảo Trâm1 - Trịnh Phương Liên1 - Nguyễn Thị Bảo Quỳnh1 - Hoàng Thị Huyền Vy1 (1 Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Văn Lang) thực hiện.

TÓM TẮT:

          Nghiên cứu xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang. Phương pháp nghiên cứu được kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của kết quả. Kết quả nghiên cứu đã xác định có 4 yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên, bao gồm: sức khỏe, truyền thông số, môi trường, giá cả. Trong đó, yếu tố sức khỏe được xác định là có ảnh hưởng tích cực và mạnh nhất đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang.

Từ khóa: hành vi tiêu dùng, tiêu dùng xanh, sản phẩm xanh, sinh viên, Trường Đại học Văn Lang.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường do con người gây ra bởi sự sống còn và sự phát triển của con người đã trở nên ngày càng nghiêm trọng (Tiao Bian, 2020). Trước thực trạng này, xu hướng tiêu dùng xanh là giải pháp tất yếu đòi hỏi người tiêu dùng phải tiêu dùng hợp lý để giảm thiểu việc tạo ra rác thải và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững (Chih-Hsuan Huang và cộng sự, 2017). Trên thế giới, tiêu dùng xanh đang dần hình thành một xu hướng tiêu dùng của nhiều quốc gia (Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh, 2016). Trong đó, Việt Nam đang vươn mình chuyển đổi với tầm nhìn vào năm 2050 sẽ đạt được chiến lược quốc gia về tiêu dùng bền vững, thế nên trong giai đoạn này triển khai tiêu dùng xanh là điều cần thiết và quan trọng (Phan Thị Lệ Thúy, 2023). Theo thống kê được Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao công bố, người tiêu dùng hiện nay chưa có ý định, hành động cụ thể tới việc tiêu dùng sản phẩm xanh cụ thể với tỷ lệ người tiêu dùng xanh ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ chiếm khoảng 12% - 18% rất ít người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ xanh (Trà My, 2024). Vì vậy, sinh viên được xem là lực lượng tiên phong trong việc tiếp nhận xu hướng mới, thúc đẩy nhận thức cộng đồng, tạo sức ảnh hưởng đáng kể qua mạng xã hội. Việc nghiên cứu hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên giúp làm rõ mức độ sẵn sàng tham gia và định hướng hành vi của những người tiêu dùng chất lượng cao với tính đại diện cao và giá trị tham khảo lớn trong nghiên cứu hành vi tiêu dùng xanh.

2. Cơ sở lý thuyết

          Tiêu dùng xanh là hành vi mua và sử dụng hàng hóa hay các sản phẩm của một cá nhân liên quan đến các vấn đề về tài nguyên và môi trường, được thúc đẩy không chỉ bởi mong muốn thỏa mãn nhu cầu bản thân mà còn là mối quan tâm đến phúc lợi của xã hội nói chung, đặc biệt hơn là mối quan tâm đến vấn đề sức khỏe (Chu Thị Kim Loan, 2022). Hành vi của người tiêu dùng là sự tác động qua lại giữa ý định, suy nghĩ, dẫn đến hành vi người tiêu dùng tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi và thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ (Hồ Huy Tựu và cộng sự, 2018). Theo nghiên cứu của Raukoff và Wu (2013), hành vi tiêu dùng xanh là hành vi người tiêu dùng cố gắng bảo vệ môi trường sinh thái và giảm tối đa ảnh hưởng tiêu cực của tiêu dùng đến môi trường trong quá trình mua, sử dụng và sau sử dụng hàng hóa. Theo nghiên cứu của Hồ Huy Tựu và cộng sự (2018), hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người. Trong những năm gần đây, sản phẩm xanh không ngừng nâng cao hoàn thiện qua việc tiêu dùng tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh và xử lý rác thải. Từ các cách tiếp cận trên, có thể khái quát hành vi tiêu dùng xanh có thể hiểu là sự kết hợp giữa nhận thức, thái độ và hành động của con người nhằm giảm thiểu khai thác tài nguyên và ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững.

          Hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên có thể được lý giải dựa trên nhiều lý thuyết nền tảng. Mô hình Giá trị - Thái độ - Hành vi (VAB) cho thấy, giá trị cá nhân định hình thái độ, từ đó dẫn đến hành vi tiêu dùng; sinh viên có xu hướng tiêu dùng xanh khi họ đề cao giá trị nhân văn và trách nhiệm môi trường. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen nhấn mạnh thái độ, chuẩn mực xã hội và kiểm soát hành vi từ đó dẫn đến ý định tiêu dùng xanh, qua đó giải thích nhận thức và môi trường xung quanh có thể thúc đẩy hay kìm hãm hành vi của mỗi cá nhân. Lý thuyết ảnh hưởng xã hội (Social Influence Theory) chỉ ra tác động mạnh mẽ của bạn bè, gia đình và cộng đồng đến sự lựa chọn sản phẩm xanh của sinh viên, nhất là trong bối cảnh các phong trào sống xanh ngày càng lan tỏa. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) chỉ ra mức độ chấp nhận các sản phẩm, dịch vụ xanh gắn liền với cảm nhận về tính hữu ích, dễ sử dụng, đặc biệt quan trọng khi sinh viên là đối tượng tiếp cận các xu thế công nghệ nhanh nhất. Như vậy, sự kết hợp của các lý thuyết này tạo cơ sở toàn diện để đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang.

3. Khoảng trống và mô hình nghiên cứu

          Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngày nay tạo nền tảng cho truyền thông số cùng với thế hệ trẻ như sinh viên, đang đứng đầu trong việc tạo ra xu thế mới qua việc lan truyền hình ảnh, thông tin qua các kênh truyền thông trên nhiều diễn đàn mạng xã hội. Truyền thông số hiện nay không chỉ là quảng cáo mà còn bao gồm blog, video ngắn, bài đăng của người ảnh hưởng và nội dung do chính người dùng tạo ra. Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của các bài nghiên cứu trước chỉ trong phạm vi người tiêu dùng tại thành phố Huế, Nha Trang hoặc sinh viên nói chung trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hay khu vực nước ngoài,… chưa có nghiên cứu nào tập trung vào sinh viên Trường Đại học Văn Lang - một trong những trường đại học có quy mô lớn và đa ngành tại TP. Hồ Chí Minh. Từ những khoảng trống chưa được nghiên cứu từ các đề tài trước đó bao gồm truyền thông số và phạm vi nghiên cứu. Nhận thấy, nghiên cứu mới về truyền thông số sẽ có tác động tích cực đến mô hình nghiên cứu, góp phần hoàn thiện hơn trong việc tìm ra giải pháp để thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh trong phạm vi nghiên cứu, cụ thể là sinh viên Trường Đại học Văn Lang.

Trách nhiệm với môi trường được hiểu là nghĩa vụ của con người nhằm bảo vệ và duy trì sự cân bằng tự nhiên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau. Nhận thức về môi trường là sự quan tâm có hành vi bảo vệ môi trường qua mối quan hệ trực tiếp với hành vi tiêu dùng xanh. Khi nhận thức về trách nhiệm được nâng cao, hành vi tiêu dùng xanh sẽ được tăng cường (Nguyễn Văn Nên và cộng sự, 2021).

          Ảnh hưởng của xã hội là tác động của cộng đồng, môi trường sống và yếu tố xã hội tác động đến hành vi, suy nghĩ và giá trị của một cá nhân hoặc một nhóm người. Người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm xanh nếu chúng là biểu tượng được công nhận công khai truyền đạt ý nghĩa xã hội mong muốn (Prashant Kumar và cộng sự, 2021). Hành vi tiêu dùng xanh của người trẻ đang bị tác động hoặc lôi cuốn bởi hành vi của đám đông (Nguyễn Văn Nên và cộng sự, 2021).

          Giá cả là mức giá mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả để sở hữu hoặc sử dụng một sản phẩm, dựa trên giá trị mà họ cảm nhận được so với lợi ích mà sản phẩm mang lại. Người tiêu dùng thường sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho sản phẩm xanh nếu nhận thấy những đặc điểm vượt trội mà nó mang lại (Ao Thu Hoài và cộng sự, 2021).

          Thái độ là một khái niệm tâm lý về tư duy, quan điểm phản ánh sự đánh giá của con người có thể là tiêu cực, tích cực hoặc trung lập. Thái độ được thể hiện thông qua hành vi của mỗi cá nhân tác động trực tiếp đến ý định tiêu dùng sản phẩm xanh, qua đó tác động gián tiếp đến việc tiêu dùng xanh (Hoàng Trọng Hùng và cộng sự, 2018).

          Truyền thông số là việc sử dụng các nền tảng trực tuyến để truyền tải thông tin giúp người tiêu dùng tiếp cận thông tin nhanh chóng về sản phẩm xanh qua quảng cáo, tiếp thị qua video marketing, mạng xã hội có ảnh hưởng đáng kể đặc biệt người tiêu dùng là thế hệ trẻ. Những đánh giá, nhận xét thông tin chi tiết trên phương tiện truyền thông xã hội có thay đổi, tác động đáng kể liên kết đến hành vi của người dùng tiêu dùng (Lê Đăng Lăng và cộng sự, 2025).

          Nhận thức về sức khỏe là hiểu biết chủ quan về sức khỏe như chế độ ăn uống, phòng ngừa bệnh tật và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe mà một cá nhân cảm thấy. Nhận thấy mối nguy hại từ thực phẩm không an toàn cùng với vấn đề ô nhiễm môi trường. Khi người tiêu dùng có ý thức về sức khỏe, họ sẽ có động lực tiêu dùng các sản phẩm xanh (Nguyễn Văn Nên và cộng sự, 2021).

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, 2025

4.     Phương pháp nghiên cứu

          Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm tạo dựng một cơ sở lý thuyết vững chắc và xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Thông qua các nguồn học thuật uy tín như Google Scholar, JSTOR, ScienceDirect,... nhóm tác giả tiến hành lược khảo, tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan gần đến đề tài nghiên cứu giúp hình thành nền tảng lý thuyết và khung phân tích cho đề tài. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu vừa kế thừa và vận dụng lý thuyết nền đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 biến độc lập có tác động đến biến phụ thuộc là hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang. Để đảm bảo tính phù hợp của mô hình, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thẩm định mô hình thông qua phương pháp chuyên gia. Qua quá trình tham vấn, lấy ý kiến mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh còn 36 biến quan sát tương ứng với 6 biến độc lập.

          Phương pháp định lượng được triển khai thông qua khảo sát bằng bảng hỏi được thiết kế trên nền tảng Google Forms, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để làm thước đo thu thập kết quả phản hồi của người tham gia khảo sát. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được sử dụng nhằm thu thập dữ liệu từ các sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Văn Lang. Để đảm bảo tính đa dạng của mẫu, đối tượng khảo sát bao gồm sinh viên ở nhiều ngành học, khóa học, giới tính và mức thu nhập khác nhau.

          Về cỡ mẫu, nghiên cứu tham khảo các tiêu chuẩn được đề xuất trong tài liệu học thuật: Theo Tabachnick & Fidell (1996), kích thước mẫu tối thiểu nên đạt nên đạt từ 98 quan sát. Cũng vậy, theo Hair và cộng sự (1998), kích thước mẫu tối thiểu cần lớn hơn 180 quan sát để đảm bảo độ tin cậy cho phân tích hồi quy và mô hình đo lường. Trên thực tế, nhóm nghiên cứu phát hành 306 phiếu khảo sát, trong đó thu về được 291 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích sau khi loại bỏ 15 phiếu không hợp lệ.

5.     Kết quả nghiên cứu

          Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt từ 0,841 đến 0,952 các giá trị đều lớn hơn 0,7 và hệ số tương quan biến tổng của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,3 còn hệ số Cronbach’s Alpha của các biến đều từ 0,7 trở lên. Trong đó, một số biến không đạt đã bị loại bỏ.

          Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho thấy chỉ số KMO là 0,846 và mức ý nghĩa ở kiểm định Bartlett’s 0,000 nhỏ hơn 0,05 chứng minh dữ liệu phù hợp và có thể xác nhận các biến quan sát có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Hệ số Eigenvalues 3,212 lớn hơn 1 và tổng phương sai trích là 80,296% lớn hơn 50%, điều này chỉ ra sự biến thiên của dữ liệu đã được giải thích và có được 4 biến độc lập: sức khỏe, truyền thông số, môi trường và giá cả ảnh hưởng đến Hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang.

          Kết quả kiểm định tương quan Pearson cho thấy biến Hành vi tiêu dùng xanh có tương quan thuận với các biến sức khỏe (0,851), truyền thông số (0,777), môi trường (0,770), giá cả (0,684) các giá trị đều khá cao, có quan hệ chặt chẽ. Các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa đều nhỏ hơn 0,05.

          Giá trị R bình phương hiệu chỉnh là 0,780 cho thấy mô hình giải thích được 78% sự biến thiên của biến phụ thuộc và 22% còn lại được giải thích bởi các biến ngoài mô hình, sai số ngẫu nhiên. Đồng thời, hệ số Durbin-Watson 1,902 (nằm trong khoảng từ 1 đến 3) nên chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình, thỏa các điều kiện đánh giá và kiểm định độ phù hợp cho việc rút ra kết quả nghiên cứu.

          Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các biến sức khỏe, truyền thông số, môi trường và giá cả có mức ý nghĩa đều nhr hơn 0,05 có ý nghĩa thống kê. Hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang phụ thuộc vào 4 biến độc lập và được thể hiện tại phương trình như sau:

          Hành vi tiêu dùng xanh= 0,499* Sức khỏe + 0,189* Truyền thông số + 0,172* Môi trường + 0,114* Giá cả

6.     Thảo luận

          Yếu tố sức khỏe ảnh hưởng tích cực và mạnh nhất đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang (Beta = 0,499). Sức khỏe không chỉ là nền tảng cho học tập, lao động và phát triển cá nhân, mà còn là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống. Kết quả này cho thấy, nhận thức của sinh viên về mối quan tâm về sức khỏe cá nhân ngày càng cao và nhận thức rõ các lợi ích lâu dài, là sự ưu tiên hàng đầu cho lựa chọn tiêu dùng xanh của sinh viên.

          Truyền thông số là yếu tố có ảnh hưởng tích cực thứ hai đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang (Beta = 0,189). Với khả năng lan tỏa thông tin nhanh chóng, tiếp cận dễ dàng và liên tục, các chiến dịch truyền thông sáng tạo dễ dàng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của các bạn sinh viên thông qua sự phổ biến của mạng xã hội như Facebook, Tik Tok, Instagram...

          Môi trường là yếu tố ảnh hưởng tích cực tương đối đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang (Beta = 0,172). Sự ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đã trở nên đáng báo động, khiến sinh viên ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường. Đặc biệt sinh viên Trường Đại học Văn Lang đang dần trở thành những công dân có trách nhiệm với môi trường và sẵn sàng thay đổi thói quen tiêu dùng để góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên một tương lai phát triển bền vững hơn.

          Giá cả là yếu tố có ảnh hưởng ít nhất (Beta = 0,114) đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang. Yếu tố này phản ánh một phần trong xu hướng tiêu dùng của sinh viên quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tính bền vững những vẫn sẵn sàng đầu tư vào những sản phẩm giá trị bền vững, tích cực cho xã hội và môi trường.

7.     Kết luận và hàm ý chính sách

          Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định mô hình với 4 biến độc lập mới, bao gồm: sức khỏe, truyền thông số, môi trường và giá cả. Kết quả phân tích định lượng cho thấy cả 4 yếu tố đều có tác động đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Trường Đại học Văn Lang, song mức độ ảnh hưởng là khác nhau. Trên cơ sở hệ số Beta chuẩn hóa và bằng chứng thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách và giải pháp như sau:

          Đối với nhà trường, cần tích hợp chuyên đề “Sống khỏe - Sống xanh” trong các học phần kỹ năng mềm, tổ chức hội thảo với chuyên gia và phát triển mô hình “Xanh - Khỏe” cung cấp thực phẩm hữu cơ, khuyến khích dùng bình nước cá nhân. Song song đó, đẩy mạnh truyền thông qua fanpage, website, câu lạc bộ sinh viên, khuyến khích sáng tạo nội dung số và tổ chức cuộc thi xanh. Đồng thời, xây dựng khuôn viên học đường xanh với thùng rác phân loại, góc tái chế, không gian gần gũi thiên nhiên. Cuối cùng, nhà trường nên liên kết doanh nghiệp mở gian hàng sản phẩm xanh giá ưu đãi, áp dụng cơ chế khuyến khích tạo điều kiện cho sinh viên tham gia.

          Đối với doanh nghiệp, cần công khai chứng nhận y tế, tem kiểm định và thành phần sản phẩm, đồng thời gắn thông điệp “An toàn cho sức khỏe” trong truyền thông và kết hợp với nhà trường tổ chức gian hàng trải nghiệm “Sức khỏe xanh”. Doanh nghiệp đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số như TikTok, Facebook, Instagram với nội dung hấp dẫn, dễ hiểu, đồng thời gắn liên kết trực tiếp để người tiêu dùng dễ tiếp cận. Ngoài ra, hợp tác cùng nhà trường và địa phương tổ chức chương trình cộng đồng, hoạt động trải nghiệm và mô hình thử nghiệm tiêu dùng xanh.

          Nghiên cứu tuy kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, kích thước mẫu chỉ gồm 291 sinh viên nên chưa có tính đại diện cao. Thứ hai, phạm vi khảo sát chỉ thực hiện tại Trường Đại học Văn Lang, dẫn đến kết quả có thể chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm của sinh viên trong nhiều bối cảnh khác nhau.

          Để khắc phục các hạn chế trên, các nghiên cứu trong tương lai cần: mở rộng quy mô mẫu và áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để tăng tính đại diện. Triển khai khảo sát tại nhiều trường đại học ở các khu vực khác nhau nhằm so sánh sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên. Ngoài ra có thể kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, chẳng hạn phỏng vấn sâu hoặc quan sát hành vi, nhằm bổ sung tính khách quan và nâng cao độ tin cậy của dữ liệu.

Lời cảm ơn:

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Văn Lang thông qua đề tài mã số 2502-DT-KKE-SV-001. Nhóm tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Phan Thanh Hòa (Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Văn Lang) đã tận tình hướng dẫn, đưa ra những định hướng quý báu và hỗ trợ chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Ao Thu Hoài, Nguyễn Thị Bích Hiền, Lê Minh Quốc và cộng sự (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Z Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 63(10), 19-23.

Chu Thị Kim Loan (2022). Tổng quan về hành vi tiêu dùng xanh. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(4), 551-562.

Hồ Huy Tựu, Nguyễn Văn Ngọc và Đỗ Phương Linh (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân Nha Trang. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, 489.

Hoàng Trọng Hùng, Huỳnh Thị Thu Quyên, Huỳnh Thị Nhi (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Huế. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, Tập 127, Số 5A, 199-212.

Lê Đăng Lăng, Tống Thị Thu Hương, Trần Nguyễn Bảo Phúc và cộng sự. (2025). Tiếp thị Truyền thông xã hội và ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thế hệ Z. Tạp chí Kinh tế & Quản trị kinh doanh, 34, 68-79.

Nguyễn Thế Khải và Nguyễn Thị Lan Anh. (2016). Nghiên cứu ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 11(1), 127-138.

Phan Thị Lệ Thúy (2023). Tiêu dùng xanh tại Việt Nam hiện nay: Thực trạng và phải pháp. Tạp chí Công Thương. Truy cập tại https://tapchicongthuong.vn/tieu-dung-xanh-tai-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-phai-phap-106815.htm.

Trà My (2024). Số liệu đáng chú ý về hành vi tiêu dùng xanh của người Việt. Truy cập tại https://nguoidothi.net.vn/so-lieu-dang-chu-y-ve-hanh-vi-tieu-dung-xanh-cua-nguoi-viet-45899.html

Chih-Hsuan Huang, Yi-Chun Huang, Hong Jin, Meng-Chen Lin et al. (2017). An Investigation of College Students' Green Consumption Behavior in China. International Journal of e-Education, e-Business, e-Management and e-Learning, 7(4), 280-286.

Nguyen Van Nen, Tran Mai Thanh Thanh, Tran Nhu Hao et al (2021). Factors affecting green consumer behavior of young consumers. An official journal of University of Economics and Law, Viet Nam National University Ho Chi Minh City, Viet Nam, 5(4), 1915-1928.

Prashant Kumar, Bhimrao M. Ghodeswar (2015). Factors affecting consumers’green product purchase decisions. Emerald Insight, 33 No. 3, 2015, 330-347.

Raukoff Wu J. (2013). Influence Mechanism of Green Consumption Behavior Based on Ajzen Planned Behavior Theory. Journal of Finance and Economics, 2, 91-100.

Tiao Bian (2020). A Review on Green Consumption. OP Conf. Series: Earth and Environmental Science, 615, 1-8.

 

Factors influencing green consumption behavior among students at Van Lang University

Tran Hong Bao Tram1

Trinh Phuong Lien1

Nguyen Thi Bao Quynh1

Hoang Thi Huyen Vy

1 Faculty of Accounting and Auditing, Van Lang University

Abstract:

This study identifies and measures the factors influencing green consumption behavior among students at Van Lang University. A mixed-methods research design, combining qualitative and quantitative approaches, is employed to ensure the comprehensiveness and reliability of the findings. The results reveal four principal determinants of students’ green consumption behavior: health considerations, digital media influence, environmental awareness, and price sensitivity. Among these factors, health emerges as the most influential and positively associated driver shaping green consumption behavior among Van Lang University students.

Keywords: consumer behavior, green consumption, green products, students, Van Lang University.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 32/2025]