Trong bối cảnh biến động ngày càng phức tạp của nền kinh tế và ngành năng lượng, Petrovietnam đã thực hiện bước chuyển căn bản trong tư duy quản trị: từ kiểm soát sang thích ứng và kiến tạo. Không chỉ thay đổi cách nhìn về rủi ro, Tập đoàn còn chuyển sang quản trị theo tín hiệu, kịch bản và hệ thống tích hợp, qua đó nâng cao năng lực dự báo, ra quyết định linh hoạt và chủ động tạo giá trị trong môi trường bất định.
Nội dung bài viết được trích đẫn từ Cuốn sách Quản trị biến động và khủng hoảng do TS. Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam làm Chủ biên tiếp cận vấn đề này từ cả chiều sâu lý luận và thực tiễn triển khai, đặc biệt thông qua trường hợp của Petrovietnam.
* Các tiêu đề do Ban Biên tập đặt lại nhằm phù hợp với nội dung giới thiệu.

Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động, đặc biệt trong ngành công nghiệp dầu khí - vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố địa - chính trị, giá năng lượng và biến động môi trường - việc thay đổi tư duy quản trị tại PVN được xác định là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Quá trình này thể hiện rõ sự dịch chuyển từ mô hình kiểm soát - mệnh lệnh sang điều hành dựa trên tín hiệu, kịch bản và quản trị rủi ro chủ động.
Điều này đòi hỏi nhà quản trị không những coi các biến động và khủng hoảng với tần suất xuất hiện ngày một dày đặc hơn như một tín hiệu cảnh báo để né tránh, mà còn phải coi đó là một đối tượng quản trị mới. Đó là yêu cầu khách quan để PVN hình thành và ứng dụng một phương thức quản trị mới: Quản trị biến động.

Phương thức này không chỉ đặt ra trong việc giải quyết những vấn đề mang tính nội bộ mà quan trọng hơn là phải quản trị được các yếu tố bên ngoài, nói cách khác là phải nhận diện, xác định các điều kiện biên. Do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp cần dành nhiều thời gian để khảo sát, nghiên cứu và dự báo các yếu tố động, coi đó như là công việc ưu tiên hàng đầu và cần được tiến hành thường xuyên. Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ cung cấp cho nhà quản trị những dữ liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc ra quyết định và thực hiện quyết định quản trị. Khi đánh giá những biến động cần có quan điểm biện chứng tức là bên cạnh việc chỉ ra các tác động tiêu cực như các biến động chi phí, lạm phát, tỷ giá, rủi ro địa - chính trị, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ thì cần thiết phải nhận diện các cơ hội từ đó kiến tạo những giá trị mới cho doanh nghiệp. Điển hình như: Chính phủ Việt Nam đang thực hiện một loạt chương trình chuyển đổi quan trọng, mang tính cách mạng để mở rộng không gian phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn, các rào cản, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp, có các chính sách hỗ trợ đầu tư cho một số lĩnh vực, ngành nghề hoặc việc giảm lãi suất ngân hàng góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng nguồn vốn.

Trước đây, hệ thống quản trị tại PVN vận hành chủ yếu dựa trên các kế hoạch cứng hàng năm và các chỉ tiêu định lượng cố định. Tuy nhiên, trong môi trường VUCA và BANI hiện nay, khi mà các yếu tố như giá dầu, địa - chính trị, chính sách năng lượng thay đổi liên tục đã làm cho mô hình đó trở nên thiếu linh hoạt. Vì vậy, PVN đã hình thành tư duy quản trị theo “tín hiệu”, tức là ra quyết định dựa trên tín hiệu từ thị trường, dữ liệu thời gian thực và quản trị theo kịch bản, nghĩa là luôn cập nhật, nâng cao năng lực dự báo, chuẩn bị nhiều phương án điều hành tùy theo từng tình huống xảy ra.
Ví dụ, trong thời gian qua, lãnh đạo PVN đã chỉ đạo xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động giá dầu, trong đó các kịch bản khi giá dầu giảm sâu được kích hoạt sớm để điều chỉnh hệ thống các mục tiêu quản trị định kỳ nhằm đạt mục tiêu tổng thể. Cách làm này thể hiện sự chuyển dịch rõ nét từ phản ứng sau rủi ro sang tư duy chủ động, chấp nhận rủi ro để quản trị.

Tư duy quản trị rủi ro cũng có sự thay đổi quan trọng. Nếu trước đây, PVN tiếp cận rủi ro như những yếu tố cần né tránh hoặc cần loại trừ, triệt tiêu càng nhiều càng tốt, thì hiện nay, rủi ro được nhìn nhận như một phần tất yếu của hệ sinh thái doanh nghiệp, của sự vận động nội tại và thay đổi đến từ môi trường hoạt động cần được chấp nhận, lượng hóa và kiểm soát trong giới hạn cho phép để tạo điều kiện cho đổi mới và tăng trưởng thông qua khẩu vị rủi ro và mức độ chấp nhận rủi ro cùng hệ thống thang đo rủi ro được cấp cao nhất là Hội đồng thành viên thống nhất phê duyệt. Điều này thể hiện rõ trong việc một số đơn vị thành viên đã chấp nhận tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn để tận dụng cơ hội đầu tư mở rộng, song song với việc áp dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro và giám sát rủi ro tài chính theo thời gian thực.

Để hỗ trợ quản lý, điều hành trước bối cảnh biến động, PVN đang từng bước số hóa hoạt động điều hành, đặc biệt là trong quản lý sản xuất, quản lý dự án, tài chính và giám sát vận hành - bảo dưỡng. Việc ứng dụng dashboard (bảng điều khiển) điều hành tổng hợp theo thời gian thực đã giúp Ban lãnh đạo có thể ra quyết định theo tín hiệu tức thời thay vì chờ tổng hợp báo cáo giấy hàng tháng như trước đây.
Mặt khác, việc phân cấp, phân quyền mạnh cùng với xây dựng các chỉ số cảnh báo sớm (early warning indicators) như: biên độ dao động chi phí nguyên liệu, tỷ lệ nợ ngắn hạn/vốn chủ sở hữu, tần suất sự cố kỹ thuật... đã giúp các phòng, ban quản lý rủi ro và các đơn vị chủ động hơn.

Tư duy quản trị cũng chuyển dịch từ quản lý theo đơn vị, bộ phận riêng lẻ sang tiếp cận tích hợp toàn chuỗi giá trị. Tư duy quản trị hệ thống, tích hợp theo chuỗi giá trị, chuỗi liên kết được xác định là trọng tâm, mang tính chiến lược, là “ADN” của hệ sinh thái PVN.
Tư duy này giúp bảo đảm các rủi ro biến động và khủng hoảng không chỉ được nhận diện theo chiều dọc trên từng lĩnh vực chuyên ngành, mà còn được nhận diện theo chiều ngang của các khối, các đơn vị.
Ví dụ, một thay đổi trong chính sách đầu tư có thể ảnh hưởng đến dòng tiền, thời gian thi công và rủi ro an toàn vận hành của các nhà máy, công trình, các đơn vị, lĩnh vực và chuỗi,... là các yếu tố trước kia thường được đánh giá tách biệt thì nay đã được nhận diện một cách hệ thống.
Khái quát lại, có thể nhận định rằng, quá trình thay đổi tư duy quản trị, quản lý tại PVN là yêu cầu khách quan, là bước chuyển căn bản từ điều hành theo kế hoạch cứng sang mô hình linh hoạt, thích ứng, kiến tạo giá trị mới và tích hợp vào từng mắt xích điều hành. Điều này không chỉ giúp PVN ứng phó hiệu quả hơn với các biến động và khủng hoảng đang ngày một khó lường, mà còn tạo tiền đề, tạo “đà” cho vòng quay phát triển bền vững trong chiến lược và tầm nhìn dài hạn.

QUẢN TRỊ BIẾN ĐỘNG VÀ KHỦNG HOẢNG
Trong một thế giới nơi biến động kinh tế, công nghệ và địa - chính trị diễn ra với tốc độ và quy mô chưa từng có, năng lực quản trị không còn dừng ở kiểm soát, mà phải chuyển sang thích ứng và kiến tạo. Cuốn Quản trị biến động và khủng hoảng do TS. Lê Mạnh Hùng chủ biên tiếp cận vấn đề này từ cả chiều sâu lý luận và thực tiễn triển khai, đặc biệt thông qua trường hợp của Petrovietnam.
Với kết cấu 4 chương, cuốn sách lần lượt làm rõ bối cảnh biến động toàn cầu, sự chuyển dịch tư duy quản trị, phương pháp quản trị mục tiêu linh hoạt và hệ phương thức quản trị biến động tích hợp. Không chỉ dừng lại ở phân tích, cuốn sách còn cung cấp các bài học giàu giá trị ứng dụng cùng hệ công cụ như mục tiêu động, dự báo - cảnh báo sớm và kiểm soát thích ứng. Từ đó, quản trị biến động được xác lập như một năng lực nền tảng, không chỉ giúp doanh nghiệp “đứng vững” mà còn “vươn lên” trước những thay đổi khó lường.
Thực tiễn cho thấy, nhờ phương thức quản trị này, cùng với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Petrovietnam đã phục hồi và tăng trưởng ấn tượng sau giai đoạn khủng hoảng chưa từng có. Năm 2025, doanh thu Tập đoàn tiếp tục lập kỷ lục năm thứ tư liên tiếp, đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 9 - 10% GDP; đóng góp ngân sách nhà nước gần 166 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 7 - 8% tổng thu. Nhiều chỉ tiêu tài chính hoàn thành vượt mức và về đích trước từ 1 - 2 năm so với kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, với tốc độ tăng trưởng bình quân 17,1 - 38,6%.
Cùng với đó, hàng loạt dự án trọng điểm được tháo gỡ và đưa vào vận hành như: các nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, Sông Hậu 1, Nhơn Trạch 3&4; kho cảng LNG Thị Vải; chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn; phát triển mỏ Đại Hùng 3… Những kết quả này là minh chứng rõ nét cho giá trị thực tiễn của quản trị biến động như một động lực phát triển bền vững.
Xem thêm các bài viết cùng chuyên đề:
- Giới thiệu sách "Quản trị biến động và khủng hoảng": Nâng cao năng lực thích ứng, chủ động kiến tạo trong môi trường bất định
- [Emagzine 2] Tái định hình chiến lược quản trị trong một thế giới ngày càng biến động
- [Emagazine 3]: Quản trị biến động - Cách Petrovietnam biến bất định thành lợi thế
- [Emagazine 4] Văn hóa quản trị biến động
- [Emagazine 5] Văn hóa quản trị biến động: “Lá chắn mềm” của Petrovietnam