2. Bạch Thái Bưởi (Giáp Tuất 1874): Nhà doanh nghiệp nổi tiếng ở Bắc Bộ, quê ở Đông Phúc – Hà Đông (nay là Hà Nội), mở nhà in Đông Kinh ấn Quán, lập công ty tàu buôn trên 30 tàu lớn nhỏ chỉ trong vòng 10 năm để cạnh tranh với tư sản Pháp và Trung Quốc đầu thế kỷ 20. Giới tư sản đương thời tặng ông biệt danh là “Chúa Sông miền Bắc”. Ông mất năm Nhâm Thân (1932) lúc 58 tuổi, được an táng tại vùng mỏ Đông Triều, nơi ông từng khai thác mỏ than. Ông còn được tôn vinh là “bậc anh hùng kinh tế thứ nhất trong kinh tế giới nước nhà”.
3. Nguyễn Phúc Bửu Đình (Mậu Tuất 1898): Nhà văn – nhà báo, nhà yêu nước, hiệu là Hà Trì, chắt trai của Hoàng Tử Tĩnh Gia, quê ở Huế. Xuất thân gia đình hoàng tộc, sinh sống tại Phan Thiết, học Quốc học Huế, rồi làm công chức bưu điện ở Sài Gòn. Ông cộng tác với các báo: Nam Kỳ Kinh Tế, Tân Thế Kỷ, Công Luận, Phụ Nữ Tân Văn... Ông hô hào nhân dân ý thức nền dân chủ, xóa bỏ chế độ Nam triều, lập chế độ cộng hòa theo chủ trương của Phan Chu Trinh, bị ghép tội “khi quân” phải xóa tên trong hoàng tộc, lấy họ mẹ nên có tên là Tạ Đình. Ông bị đi đầy ở nhà tù Lao Bảo, rồi ra Côn Đảo, vẫn kiên cường viết nhiều bài báo gửi về đất liền nhằm tố cáo chế độ của thực dân. Khoảng năm 1931, ông cùng một số chính trị phạm khác thả bè vượt trốn về đất liền, nhưng mất tích trên biển, khi ấy mới 32 tuổi.
4. Lê Liễu Huê (Canh Tuất 1910): Nữ sĩ bút danh ái Lan, quê ở Thạch Hãn – Quảng Trị, nhiệt tình yêu nước và yêu văn hóa dân tộc. Bà làm thơ, viết văn cộng tác với nhiều tờ báo từ năm 1925. Anh trai và các em trai của bà đều là những cây bút nổi tiếng trong làng báo, làng văn nước nhà. Khi đất nước thống nhất, bà làm Cố vấn Hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Hồ Chí Minh. Nữ sĩ qua đời vào năm 1976, thọ 66 tuổi.
5. Đặng Văn Ngữ (Canh Tuất 1910): Bác sĩ, nhà khoa học. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội, sang Nhật học, nghiên cứu tìm ra thứ nấm pê-ni-xi-li- om, trở về nước phục vụ kháng chiến. Ông chế ra nước lọc pê-ni-xi-lin, nghiên cứu kế hoạch tiêu diệt bệnh sốt rét. Ông được kết nạp vào Đảng năm 1960, lặn lội vào tận Vĩnh Linh, đi dọc Trường Sơn để nghiên cứu và chế thuốc điều trị cho bộ đội trên chiến trường. Ông hi sinh ở Vĩnh Lĩnh – Quảng Trị, hưởng thọ 57 tuổi.
6. Nguyễn Hữu Thọ (Canh Tuất 1910): Luật sư – Quyền Chủ tịch Nước, quê ở Bến Lức – Long An. Sang Pháp du học đỗ Tú tài, tốt nghiệp cử nhân luật Đại học Luật khoa và Văn khoa Aix-Provance, ông về nước hành nghề luật sư tại Mỹ Tho, Vĩng Long, Cần Thơ, Sài Gòn cho đến năm 1945. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông cộng tác với Việt Minh tại nội thành. Bị Pháp bắt đưa ra Bắc quản thúc tại Lai Châu, khi trở về Sài Gòn ông tham gia phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn, lại bị bắt và quản thúc ở Hải Phòng đến Hiệp định Genève mới được trả tự do. Khi chính quyền Diệm bắt giam ông ở Củng Sơn – Tuy Hòa, cách mạng giải thoát đưa ông về vùng giải phóng, và bầu làm Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, ông được cử làm Phó Chủ tịch Nước, đến năm 1980 là Quyền Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cho đến ngày qua đời (1996), hưởng thọ 86 tuổi.
7. Phạm Ngọc Thảo (Nhâm Tuất 1922): Liệt sĩ – Tình báo Cách mạng, quê ở Bến Tre. Ông nguyên là Đại tá quân đội Sài Gòn, Tuỳ viên báo chí trong “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Cuộc đời của ông thật ly ky gay cấn, đến nỗi một nhà văn đã hư cấu thành nhân vật Nguyễn Thành Luân trong bộ tiểu thuyết “Ván bài lật ngửa” và bộ phim cùng tên. Ông từng bị toán mật vụ ám sát tại Hố Nai, được một linh mục cứu chữa, sau đó lại bị an ninh bắt và tra tấn đến chết vào ngày 17/7/1965. Sau ngày thống nhất đất nước, ông được Đảng và Chính phủ Việt Nam truy tặng liệt sĩ với hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam./.
