Cần phát huy vai trò “trụ cột ổn định” của thị trường trong nước khi khu vực xuất khẩu gặp khó khăn

Với quy mô hơn 100 triệu dân và đóng góp khoảng 62% vào tăng trưởng GDP hằng năm, thị trường trong nước không chỉ là dư địa phát triển lớn mà còn là động lực tăng trưởng chiến lược trong giai đoạn tới. Việc chủ động nguồn nguyên liệu, nhiên liệu từ thị trường trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nâng cao tính tự chủ...

Trong bối cảnh kinh tế thế giới liên tục đối mặt với các cú sốc lớn như đại dịch Covid-19, xung đột Nga - Ukraine, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và gần đây là những bất ổn địa chính trị mới, thị trường trong nước đã khẳng định vai trò là “trụ cột ổn định” và là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế khi khu vực xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Cùng với mục tiêu hướng tới giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu "nghìn tỷ đô la" đóng góp vào tăng trưởng "hai con số" trong giai đoạn 2026-2030, đâu là những giải pháp được ngành Công Thương tập trung ưu tiên? PV Nguyên Long phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân về nội dung này:

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân - nguời phát ngôn của Bộ Công Thương

PV: Thưa Thứ trưởng, đối với hoạt động xuất nhập khẩu, ngành Công Thương hướng tới tăng trưởng cao, với mục tiêu kim ngạch “nghìn tỷ” USD. Vậy đâu là giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu này trong bối cảnh hiện nay?

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Để hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu “nghìn tỷ” USD trong bối cảnh năm 2026 còn nhiều biến động, Bộ Công Thương xác định cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển thị trường, nâng cao năng lực nội tại của nền sản xuất và tận dụng hiệu quả các cam kết hội nhập, trên tinh thần chủ động, linh hoạt và quyết liệt.

Trước hết, cần tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất trong nước, tạo nguồn hàng có chất lượng cho xuất khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang dần phục hồi, lạm phát được kiểm soát và nhu cầu thị trường có xu hướng cải thiện, việc bảo đảm năng lực sản xuất, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp, năng lượng, hạ tầng giao thông trọng điểm sẽ tạo dư địa lớn cho xuất khẩu. Đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và chủ động nguồn cung nguyên liệu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tăng sức cạnh tranh.

Thứ hai, đa dạng hóa và phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng bền vững. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xu hướng bảo hộ và các rào cản kỹ thuật ngày càng phức tạp, Việt Nam cần tiếp tục khai thác hiệu quả các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU; đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác. Cùng với đó là nâng cao năng lực cảnh báo sớm, chủ động ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại, chống gian lận xuất xứ để bảo vệ uy tín và lợi ích chính đáng của hàng hóa Việt Nam.

Thứ ba, theo dõi chặt chẽ diễn biến kinh tế - chính trị thế giới và chính sách thương mại của các đối tác lớn để kịp thời có khuyến nghị, biện pháp ứng phó phù hợp. Trong bối cảnh chính sách thuế quan của Hoa Kỳ có thể thay đổi, xung đột địa chính trị tại một số khu vực tiếp tục leo thang, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá cả hàng hóa còn hiện hữu, Bộ Công Thương sẽ tăng cường công tác phân tích, dự báo, cập nhật thông tin thị trường; chủ động tham mưu Chính phủ các giải pháp điều hành linh hoạt; đồng thời khuyến nghị doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thị trường và phương thức giao dịch phù hợp với từng kịch bản. Việc nâng cao năng lực cảnh báo sớm và phản ứng chính sách kịp thời sẽ là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro và giữ vững đà tăng trưởng.

Thứ tư, khai thác tối đa các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết. Việc thực thi đầy đủ, hiệu quả các cam kết, nội luật hóa kịp thời các quy định, nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, cam kết thuế quan sẽ giúp tận dụng tốt hơn các ưu đãi. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, thúc đẩy đàm phán các FTA và thỏa thuận thương mại mới nhằm mở rộng không gian thị trường và tạo thêm động lực tăng trưởng dài hạn.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và logistics để tạo thuận lợi hoá thương mại. Xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở ra kênh phân phối mới, đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với đó, việc triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn mới, tăng cường thuận lợi hóa thương mại, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng số hóa trong quản lý cấp phép, xuất xứ… sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ sáu, là đổi mới công tác xúc tiến thương mại có trọng tâm, trọng điểm; thúc đẩy mạnh mẽ chương trình chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại; phát huy vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, thúc đẩy xuất khẩu vào các thị trường truyền thống, các thị trường mới còn nhiều tiềm năng.

Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu khoảng 15-16% trong năm 2026 đòi hỏi quyết tâm cao, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

PV. Thưa Thứ trưởng, đã có những khó khăn bước đầu trong hoạt động xuất nhập khẩu, như về hoạt động vận tải, logistics trong giao thương quốc tế. Bộ đã có động thái như thế nào để hỗ trợ các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng…?

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Để ứng phó và giảm thiểu tác động tiêu cực của tình hình căng thẳng giữa Mỹ, Israel và Iran đối với hoạt động vận tải hàng hóa liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam, ngày 01 tháng 3 năm 2026, Bộ Công Thương có văn bản, chúng tôi đưa ra các khuyến cáo đối với các doanh nghiệp một số nội dung, cụ thể:

Thứ nhất, doanh nghiệp cần theo dõi sát sao diễn biến tình hình, cần cập nhật thường xuyên tình hình chính trị - an ninh tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là các thông tin từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các cơ quan truyền thông uy tín để có đánh giá kịp thời về rủi ro.

Thứ hai, doanh nghiệp cần rà soát lại các hợp đồng; Kiểm tra lại các điều khoản trong hợp đồng xuất nhập khẩu, đặc biệt là các điều khoản về giá cước, thời gian giao hàng, bảo hiểm và điều khoản bất khả kháng để lường trước các tình huống phát sinh.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường và đối tác. Hạn chế phụ thuộc quá mức vào một thị trường hoặc một tuyến vận tải. Chủ động tìm kiếm các thị trường mới, các đối tác vận tải khác có lộ trình ít rủi ro hơn. Cũng cần dự phòng chuỗi cung ứng. Xây dựng kế hoạch dự phòng cho chuỗi cung ứng, bao gồm việc tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu thay thế và các tuyến vận chuyển khác để giảm thiểu tác động khi có gián đoạn.

Thứ tư, cân nhắc các giải pháp vận tải thay thế. Trong trường hợp khả thi, cần xem xét đến các phương thức vận tải khác như đường sắt liên vận quốc tế (đối với một số thị trường), hoặc kết hợp các phương thức vận tải để tối ưu hóa chi phí và thời gian.

Thứ năm, thường xuyên liên hệ với các đối tác nhập khẩu để thông báo về tình hình, cùng tìm kiếm giải pháp tối ưu. Làm việc chặt chẽ với các hãng tàu, hãng hàng không, forwarder để nắm rõ thông tin về lộ trình, thời gian vận chuyển dự kiến và các phụ phí phát sinh. Cân nhắc việc mua bảo hiểm hàng hóa với phạm vi bảo hiểm rộng hơn, bao gồm các rủi ro chiến tranh, khủng bố; Cũng cần đề phòng biến động tỷ giá hối đoái do tác động của giá dầu và tình hình kinh tế toàn cầu.

Đặc biệt, khi gặp khó khăn hoặc cần thông tin hỗ trợ, doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp với các đơn vị của Bộ Công Thương như Cục Xuất nhập khẩu, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài hoặc Đại sứ quán Việt Nam tại các khu vực liên quan để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục triển khai một số nhiệm vụ cụ thể:

Thứ nhất, phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng (Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam), Bộ Ngoại giao (Vụ Trung Đông - Châu Phi), nghiên cứu, theo dõi, bám sát tình hình để tham mưu cho Lãnh đạo Bộ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ đối với những vấn đề ngoài thẩm quyền của Bộ;

Thứ hai, tiếp tục phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics, Hiệp hội Chủ tàu, các doanh nghiệp logistics và hãng tàu có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước tình hình giá cước tăng cao và thiếu container rỗng, đảm bảo không để xảy ra tình trạng khan hiếm, khó đặt chỗ trên tàu.

Thứ ba, phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông và các cơ quan quản lý liên quan cập nhật kịp thời các thông tin, đăng tải khuyến cáo nhanh chóng và chuẩn xác đến cộng đồng doanh nghiệp.

PV: Thưa Thứ trưởng, trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, Bộ nhìn nhận như thế nào về vai trò của thị trường trong nước cũng như sự chủ động nguồn nguyên liệu/nhiên liệu từ thị trường nội địa?

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Trong bối cảnh như vậy, thị trường trong nước đã khẳng định vai trò là “trụ cột ổn định” và là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế khi khu vực xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.

Với quy mô hơn 100 triệu dân và đóng góp khoảng 62% vào tăng trưởng GDP hằng năm, thị trường nội địa không chỉ là dư địa phát triển lớn mà còn là động lực tăng trưởng chiến lược trong giai đoạn tới. Đồng thời, việc chủ động nguồn nguyên liệu, nhiên liệu từ thị trường trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao tính tự chủ, giảm thiểu rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững.

PV: Vậy đâu là các giải pháp trọng tâm của ngành Công Thương đối với “chân kiềng” tiêu dùng nội địa trong cả trước mắt và lâu dài, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Về trước mắt, Bộ tập trung kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và bảo đảm ổn định cung – cầu hàng hóa thiết yếu. Ngày 22/8/2025, Bộ đã ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển thị trường trong nước giai đoạn 2025–2027, nhằm kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại hiện đại, bền vững và tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Mục tiêu là vừa thúc đẩy tiêu dùng nội địa, vừa xây dựng thương hiệu hàng Việt, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô.

Bộ cũng chú trọng phát triển thương mại biên giới, đặc biệt với Campuchia, thông qua Đề án theo Quyết định số 2162/QĐ-BCT ngày 25/7/2025; phối hợp với Bộ Thương mại Campuchia và các địa phương như Tây Ninh, An Giang tổ chức các hội nghị kết nối doanh nghiệp sản xuất, phân phối và logistics Việt Nam – Campuchia, qua đó mở rộng không gian tiêu thụ hàng hóa Việt.

Đồng thời, Bộ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và kích cầu tiêu dùng, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương, bảo đảm triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước.

Về lâu dài, Bộ tập trung hiện đại hóa hạ tầng thương mại và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, như: Tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050; phát triển hệ thống phân phối hiện đại kết hợp truyền thống, mở rộng chuỗi cửa hàng tiện lợi, trung tâm hàng Việt vùng miền, tạo điều kiện để hàng Việt tham gia sâu hơn vào các chuỗi bán lẻ.

Nâng cấp chợ truyền thống, bảo đảm an toàn vệ sinh và phòng cháy chữa cháy; ứng dụng công nghệ số, kết hợp mô hình bán lẻ hiện đại trong các chợ quy mô lớn.

Triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2025–2035, phát triển trung tâm logistics vùng, tăng liên kết chuỗi cung ứng, ứng dụng AI, blockchain, IoT và phân tích dữ liệu lớn để tối ưu hóa vận hành.

Thúc đẩy thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất đưa sản phẩm lên nền tảng số; xây dựng “Gian hàng Việt chuẩn số”; đào tạo kỹ năng số, phấn đấu tăng trưởng TMĐT năm 2025 đạt trên 25,5%.

Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, chính sách thuế phí phù hợp với cam kết quốc tế; ưu tiên doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao, sản phẩm truy xuất nguồn gốc rõ ràng, đạt chuẩn xanh và ESG; khuyến khích doanh nghiệp bán lẻ mở rộng mạng lưới về nông thôn, miền núi, hải đảo.

Tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung, hội chợ, triển lãm, “Tháng hàng Việt”, tuần lễ hàng Việt – OCOP; đẩy mạnh hội chợ xanh nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động phương án bình ổn giá hàng thiết yếu; tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, nhất là với các mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.

Có thể khẳng định, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, thị trường trong nước không chỉ là “chân kiềng” ổn định tăng trưởng mà còn là nền tảng để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Việc phát triển mạnh mẽ thị trường nội địa, chủ động nguồn nguyên liệu và củng cố hệ thống phân phối hiện đại chính là giải pháp căn cơ để Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững trong cả ngắn hạn và dài hạn.

PV. Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Thị trường nội địa với quy mô 100 triệu dân là "trụ cột" vững chắc (chân kiềng) giúp nền kinh tế Việt Nam giảm rủi ro trước biến động toàn cầu. Ngành bán lẻ được định hướng tăng trưởng 13-15%/năm, kết hợp với đầu tư và xuất khẩu, tạo động lực chính để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP cao. (Ảnh minh hoạ)
Thị trường nội địa với quy mô 100 triệu dân là "trụ cột" vững chắc (chân kiềng) giúp nền kinh tế Việt Nam giảm rủi ro trước biến động toàn cầu. Ngành bán lẻ được định hướng tăng trưởng 13-15%/năm, kết hợp với đầu tư và xuất khẩu, tạo động lực chính để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP cao. (Ảnh minh hoạ)
theo VOV