Bảo vệ “mã gen” làng nghề và kinh tế di sản Việt Nam

Dưới góc nhìn Công Thương, di sản văn hóa không chỉ là bảo vật để cất trong bảo tàng, mà là “vốn tri thức nội sinh”, là nền tảng tạo nên sức cạnh tranh cốt lõi cho các làng nghề truyền thống và ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, khi Trí tuệ Nhân tạo (AI) và các thuật toán số đang dần chi phối dòng chảy thương mại và tri thức toàn cầu, nếu tri thức làng nghề không được số hóa, sản phẩm Việt sẽ nguy cơ bị xóa và sửa căn cước trên không gian mạng.

Từ câu chuyện “Pháo diễn tích” Bình Đà

Dự án “Sử làng sử nước” do Công ty VietPictures thực hiện dưới sự đồng hành của Quỹ VinIF đã triển khai chiến dịch 52 tuần tại 52 ngôi làng tiêu biểu.

Ý tưởng dự án bắt đầu từ một chuyến viếng thăm đền Nội thờ Đức Lạc Long Quân tại làng Bình Đà, Hà Nội. Làng Bình Đà từng được mệnh danh là “thủ phủ pháo” của cả nước.

Hôm đó, cụ từ giữ đền đã kể về “Pháo diễn tích”, một tuyệt kỹ chế tác pháo, một đỉnh cao kỹ nghệ dân gian. Tích xưa kể rằng khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay, hai người dặn nhau nếu có biến cố thì dùng hiệu lệnh gọi nhau. Trong lễ hội làng, người Bình Đà tái hiện lời hẹn ước ấy bằng một trận pháo vô cùng tinh xảo.

Bảo vệ “mã gen” làng nghề và kinh tế di sản Việt Nam
Tháp cửu phẩm liên hoa chùa Cổ Lễ

Một quả pháo châm ngòi trên bờ, kéo dây cháy chìm xuống tận lòng hồ sen, tượng trưng cho lời kêu cứu của Âu Cơ gửi xuống nước cho Lạc Long Quân. Khi bọt khí bùng lên dưới mặt nước, dân làng biết tín hiệu đã chạm tới đáy hồ, Lạc Long Quân đã nhận được tin. Quả pháo thủy nổ đẩy ngòi cháy ngược lên bờ, lao dọc thân cây pháo chính rồi vút lên đỉnh, tượng trưng cho hiệu lệnh của Lạc Long Quân. Tại 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc trên đỉnh cây pháo, 16 quả pháo nhỏ đồng loạt nổ vang, gọi là “Pháo Nhất thanh”.

16 tiếng nổ đồng thời đó đại diện cho 16 bộ lạc Văn Lang thời đại Hùng Vương đồng thanh hưởng ứng hiệu lệnh của Quốc Tổ, đồng tâm giải quyết tai biến cho Mẹ Âu Cơ.

“Pháo diễn tích” Bình Đà chính là một “sản phẩm công nghiệp sáng tạo” hoàn chỉnh của người xưa: Họ kết hợp kỹ thuật chế tác ngòi nổ dưới nước (R&D), tích hợp nghệ thuật diễn xướng dân gian (Marketing/Branding) và gửi gắm thông điệp về lòng đoàn kết dân tộc (Giá trị cốt lõi). Đó là đỉnh cao của tri thức làng nghề.

Khi nghề pháo dừng lại, tục Pháo diễn tích lụi tàn. Kỹ thuật tính toán thời gian cháy chìm dưới nước và kích nổ đồng loạt 16 ngòi pháo giờ chỉ còn nằm trong trí nhớ của vài cụ già. Nếu không được ghi nhận và số hóa, cái “know-how”, bí kíp kỹ thuật và câu chuyện thương hiệu di sản ấy sẽ vĩnh viễn mất đi.

“Mã gen sản xuất” và “bản sắc bản địa”

Lâu nay, lịch sử thường được nhìn nhận dưới góc độ các sự kiện chính trị, triều đại - “Sử Nước”. Sử nước cho chúng ta một bộ khung xương lịch sử dân tộc. Nhưng chính Sử làng, với các thần tích, phong thổ, nghi lễ và bí truyền làng nghề, mới đắp lên bộ khung đó da thịt, tâm hồn và sức sống.

Chính sử ghi chép các sự kiện quan phương chính thống. Nhưng Sử làng ghi chép lại cách người dân ở từng vùng đất sáng tạo ra sinh kế: làng này dệt vải, làng kia đúc đồng, làng nọ làm mắm hay dệt lưới. Sử làng chứa đựng “Mã gen sản xuất” và “Bản sắc bản địa” của cộng đồng.

Đi qua mỗi làng quê, vị Thành hoàng làng hay vị Tổ nghề không chỉ là biểu tượng tâm linh, mà là Thương hiệu di sản của làng đó. Đơn cử, một thiền sư như Nguyễn Minh Không, ở làng này ngài là tổ nghề đúc đồng, làng kia lại tổ nghề làm thuốc…

Chính sự đa dạng dân gian này tạo ra hàng ngàn “tiểu không gian văn hóa” độc bản. Trong nền kinh tế sáng tạo hiện đại, đây chính là kho nguyên liệu thô vô giá để phát triển du lịch di sản, thiết kế sản phẩm lưu niệm, xây dựng thương hiệu nông sản địa phương và sản xuất các ấn phẩm truyền thông.

Số hóa sử làng để thuật toán không “nuốt chửng” ký ức

Trong bối cảnh thương mại số, vấn đề đặt ra là nguy cơ đối với các sản phẩm và làng nghề Việt Nam khi tri thức về sử làng chưa được số hóa. Đây là vấn đề sống còn của kinh tế số Việt Nam trong 5-10 năm tới.

Các mô hình AI toàn cầu học và phân phối thông tin dựa trên dữ liệu đã được số hóa. Hiện nay, 90% dữ liệu huấn luyện AI đến từ phương Tây và các quốc gia phát triển, nơi họ đã gắn nhãn dữ liệu cho từng di sản của mình.

Nếu tri thức làng nghề và sử làng Việt Nam chỉ nằm trong đầu các cụ già hay trong các cuốn sắc phong cất trang trọng trong đình làng, đối với thuật toán AI, nó nghiễm nhiên không tồn tại.

Tục chui kiệu tại chùa Keo (xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình trước đây)
Tục chui kiệu tại chùa Keo, xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình trước đây)

Thực tế này đặt ra hai vấn đề trên thị trường số.

Đầu tiên là nguy cơ bị chiếm đoạt thương hiệu văn hóa. Khi nhà sản xuất Việt Nam muốn bán một sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay trà cổ thụ ra thế giới thông qua thương mại điện tử, nếu AI không có dữ liệu gốc về “sử làng”, nó sẽ tự động gán sản phẩm đó với các phong cách của Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Thái Lan chẳng hạn. Sản phẩm Việt bị “mất căn cước” ngay trên kệ hàng số.

Vấn đề thứ hai là mất giá trị gia tăng. Người tiêu dùng toàn cầu mua sản phẩm vì “câu chuyện”. Nếu câu chuyện pháo Bình Đà hay bí quyết gốm cổ không được mã hóa thành dữ liệu chuẩn để AI hiểu và lan tỏa, sản phẩm làng nghề Việt sẽ mãi bị đè giá ở phân khúc thô, gia công giá rẻ.

Nếu không số hóa sử làng ngay hôm nay, chúng ta đang bỏ trống không gian tâm thức và thương hiệu sản phẩm của con cháu mình cho các thuật toán ngoại quốc.

Tạo “hồ sơ di sản số” cho các làng nghề

Để giải quyết bài toán này, dự án “Sử làng sử nước” do VietPictures và Quỹ VinIF thực hiện hướng tới tạo ra hệ sinh thái dữ liệu ứng dụng, với 52 tuần, 52 ngôi làng Việt tiêu biểu trong một năm liên tục.

Dự án thực hiện 3 bước.

Bước 1 là ưu tiên thu âm, ghi hình, mã hóa tri thức truyền miệng của các cao niên về nghề cổ, quy trình sản xuất truyền thống và thần tích làng. Đây là công việc rất cấp bách vì những bậc cao niên ngày một ít đi.

Bước 2 là xây dựng các kênh truyền thông digital, dần dần đưa các thông tin thô đã được xử lý lên. Đây chính là việc “nạp” dữ liệu sạch về sản phẩm và văn hóa Việt vào hệ thống AI toàn cầu, xây dựng hàng rào bảo vệ chủ quyền thương hiệu.

Bước 3 là chuyển hóa dữ liệu thành các bản đồ di sản số, video thương hiệu, câu chuyện truyền thông trực quan trao trả lại cho chính dân làng.

Khi người dân Bình Đà hay bất kỳ làng nghề nào sở hữu một “hồ sơ di sản số” sắc nét, họ có thể dùng nó để làm truyền thông du lịch, đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nâng tầm giá trị sản phẩm OCOP và thu hút du khách quốc tế.

Coi di sản làng nghề là tài sản kinh tế số

Từ thực tiễn triển khai dự án, có ba vấn đề được đặt ra đối với các cơ quan quản lý công thương, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp làng nghề.

Thứ nhất, cần coi Di sản Làng nghề là Tài sản Kinh tế Số. Đã đến lúc các làng nghề không chỉ bán “sản phẩm vật lý” - vật dụng, đồ thủ công - mà phải bán “hàm lượng văn hóa và dữ liệu số” đi kèm. Một bình gốm có mã QR truy xuất ngược về câu chuyện Thành hoàng làng hay bí quyết men cổ sẽ có giá trị cao gấp nhiều lần một bình gốm vô danh.

Thứ hai, doanh nghiệp địa phương phải đồng hành cùng người già. Đừng đợi đến khi các cụ từ, thợ cổ qua đời mới đi tìm câu chuyện. Doanh nghiệp cần phối hợp với giới chuyên môn số hóa ngay tập quán sản xuất và huyền thoại làng nghề để đưa vào chiến lược Branding.

Thứ ba, cần kích hoạt sức sáng tạo của người trẻ bản địa. Hãy trao cho thanh niên làng nghề công cụ số để họ trở thành những “sứ giả thương mại di sản”. Khi người trẻ tự hào về câu chuyện “Pháo Nhất thanh” hay kỹ nghệ quê mình, họ sẽ biết cách bán sản phẩm ra thế giới qua TikTok, Amazon bằng chính sự kiêu hãnh đó.

Khi tiếng nổ “Pháo Nhất thanh” của làng Bình Đà hay tri thức của hàng ngàn làng nghề được sống khỏe mạnh trên không gian số, sản phẩm Việt Nam không chỉ đứng vững trên thị trường toàn cầu bằng giá thành, mà bằng sức mạnh chiều sâu của một dân tộc có căn cước.

Đạo diễn, Nhà nghiên cứu văn hóa ứng dụng Trương Công Tú