[Emagazine] Thu hẹp khoảng cách kỹ năng số, mở đường cho sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
02/10/2026 lúc 10:50 (GMT)

[Emagazine] Thu hẹp khoảng cách kỹ năng số, mở đường cho sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

 

Thương mại điện tử đang mở rộng cánh cửa thị trường cho nông sản vùng cao, giúp những sản phẩm từng chỉ quanh quẩn ở các phiên chợ địa phương có cơ hội đến với người tiêu dùng trên cả nước và vươn ra thị trường quốc tế. Nhưng khi khoảng cách địa lý được thu hẹp, khoảng cách về kỹ năng số lại trở thành điểm nghẽn mới. Để đặc sản vùng cao có thể đứng vững và cạnh tranh, cần một hệ sinh thái đủ sức kết nối người sản xuất với nhân lực số, nền tảng, logistics và thị trường.

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ MỞ ĐƯỜNG CHO NÔNG SẢN VÙNG CAO

 

Trong bức tranh tổng thể của nền kinh tế số, thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam đang duy trì tốc độ phát triển mạnh mẽ. Theo Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2026 (EBI 2026) của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), quy mô thị trường TMĐT năm 2025 ước đạt khoảng 38,5 tỷ USD, tăng trưởng 21% so với năm 2024. Sự bùng nổ này minh chứng cho sự dịch chuyển mang tính bản lề: không gian mạng đã thực sự trở thành một "thị trường lớn thứ hai" song hành cùng hệ thống phân phối truyền thống.

Dưới tác động đó, nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang chứng kiến cuộc cách mạng về phương thức tiêu thụ. Nếu trước đây, rào cản của nông sản vùng cao là khoảng cách địa lý, hạ tầng giao thông cách trở, áp lực chi phí logistics và tình trạng bị ép giá dẫn đến vòng luẩn quẩn "được mùa mất giá", thì nay, TMĐT đã đóng vai trò là "cầu nối không khoảng cách". Chỉ qua một cú click chuột hay một phiên livestream, các đặc sản trứ danh từ vùng cao phía Bắc đến Tây Nguyên – như mật ong bạc hà Mèo Vạc, chè Shan tuyết Suối Giàng, hạt mắc ca Tây Bắc hay cà phê đặc sản Buôn Ma Thuột…đã vượt khỏi lũy tre làng để vươn tới tay người tiêu dùng trên cả nước.

thương mại điện tử

Thực tiễn ấy đang tạo nên làn sóng "bản làng làm online" vô cùng sinh động. Thay vì quẩn quanh ở các phiên chợ huyện, nhiều hợp tác xã và người dân đã chủ động cầm điện thoại, livestream giới thiệu sản phẩm trên các gian hàng số lớn. Điển hình tại xã Bình Lư (Lai Châu) – tiêu biểu cho mô hình "xã thương mại điện tử", thông qua chiến dịch "Bình Lư vươn mình" phối hợp giữa Sở Công Thương Lai Châu, chính quyền địa phương và các nền tảng số được tổ chức vào cuối năm 2025 - đầu năm 2026. Từ chiến dịch này cộng đồng tiểu thương và các hộ sản xuất đã tiêu thụ thành công hàng trăm tấn miến dong trong các mùa mua sắm cao điểm. 

Tương tự, chiến dịch "Sìn Hồ vươn mình" ( tỉnh Lai Châu) phối hợp với các nền tảng số tổ chức tháng 10 đến tháng 12 năm 2025 cũng ghi nhận dấu ấn đột phá khi giúp tiêu thụ gần 700 tấn khoai sâm chỉ trong vòng 3 tháng nhờ tận dụng hiệu quả không gian mạng. Những mô hình tiên phong này khẳng định công nghệ số đã thực sự chạm đến từng hộ nông dân, mở ra sinh kế bền vững và đưa sản vật bản địa bước thẳng vào dòng chảy thương mại hiện đại.

Bản làng online tiếp cận TMĐT

Tuy nhiên, đằng sau sự bùng nổ của thương mại điện tử cũng đồng thời làm lộ rõ một điểm nghẽn mang tính cấu trúc chính là “Khoảng cách về kỹ năng số”.

Khoảng cách kỹ năng số: RÀO CẢN CỐT LÕI TRÊN CON ĐƯỜNG SỐ HÓA NÔNG SẢN

Theo Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam (EBI 2026) của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), bên cạnh sự bùng nổ về quy mô thị trường, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền đang bộc lộ rất rõ qua những con số biết nói. Báo cáo chỉ ra rằng trong khi các đô thị lớn dẫn đầu, nhiều tỉnh miền núi và vùng khó khăn hiện chỉ đạt từ 4 – 6 điểm trên bảng xếp hạng Chỉ số TMĐT, và khoảng cách này gần như không thay đổi trong suốt 5 năm qua. Thêm vào đó, tỷ trọng giao dịch thương mại điện tử giữa hai đầu tàu lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với phần còn lại của cả nước vẫn duy trì ở mức cách biệt 70 - 30, phản ánh sự cô đặc về hạ tầng khi hai thành phố này dù chỉ chiếm khoảng 22% dân số nhưng nắm giữ tới hơn 63% tên miền quốc gia ".vn" và khoảng 80% số website bán hàng đã đăng ký với Bộ Công Thương. 

báo cáo chỉ số thương mại điện tử VN

Những dữ liệu trên cho thấy rào cản của nông sản vùng cao không nằm ở hạ tầng viễn thông khi mạng 4G, 5G và điện thoại thông minh đã phủ khắp các bản làng mà xuất phát từ việc thiếu hụt hạ tầng công nghệ nền tảng và năng lực làm chủ hệ thống số. Khi các tài nguyên số tập trung tại đô thị lớn, chủ thể sản xuất vùng cao phải phụ thuộc vào các ứng dụng mạng xã hội thay vì sở hữu hệ thống quản trị dữ liệu và vận hành chuẩn hóa độc lập.

Sự thiếu hụt công nghệ lõi này khiến các đơn vị sản xuất vùng cao gặp nhiều khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng trực tuyến quy mô lớn, nơi đòi hỏi tính tự động hóa và bảo mật cao. Do đó, khi thị trường thương mại điện tử bước vào giai đoạn cạnh tranh chuyên nghiệp, điểm nghẽn cốt lõi không còn là thiết bị phần cứng, mà là khoảng cách về kỹ năng số và năng lực vận hành thực chiến của người sản xuất.

Trước hết là rào cản về ngôn ngữ và trình độ học vấn. Phần lớn các ứng dụng thương mại điện tử, ví điện tử hay nền tảng số hiện nay đều sử dụng tiếng phổ thông với hệ thống thuật ngữ kỹ thuật phức tạp, gây khó khăn không nhỏ cho một bộ phận đồng bào, đặc biệt là phụ nữ và người lớn tuổi trong việc đọc hiểu và thao tác. Hơn thế, những khái niệm trừu tượng như bảo mật tài khoản hay liên kết ngân hàng cũng tạo ra sức ép tâm lý, khiến không ít người e ngại rủi ro khi tiếp cận công nghệ mới.

Bên cạnh đó, sự vênh lệch rõ nét giữa tư duy sản xuất truyền thống và yêu cầu của thị trường số cũng là một điểm nghẽn lớn. Người dân vùng cao rất giàu kinh nghiệm canh tác để tạo ra nông sản sạch, nhưng lại thiếu hụt tư duy thương mại hiện đại để tự túc tính toán chi phí vận chuyển, đóng gói chuẩn quy cách vận tải nhanh hay quản lý chuỗi đơn hàng phát sinh trên mạng. Thói quen sử dụng tiền mặt lâu đời cũng tạo ra một lực cản tâm lý lớn trước các phương thức thanh toán điện tử, khi họ luôn lo ngại về rủi ro lừa đảo hay thất lạc dòng tiền trên không gian mạng.

Sự thiếu hụt năng lực tiếp thị số và vận hành hệ thống càng đẩy các chủ thể sản xuất vào thế khó. Để cạnh tranh trên các sàn TMĐT người bán đòi hỏi phải biết quay video, chụp ảnh bắt mắt và livestream tự tin. Sự e ngại trước ống kính cùng việc thiếu kỹ năng "kể câu chuyện sản phẩm" khiến nông sản vùng cao khó tạo dấu ấn với người tiêu dùng miền xuôi. Do thiếu kỹ năng tự vận hành, nhiều đơn vị vẫn phải phụ thuộc vào các đội ngũ kỹ thuật từ bên ngoài, dẫn đến chi phí cao, mất chủ động và khó duy trì doanh thu ổn định.

Đánh giá về thực trạng này, tại tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” do Tạp chí Công Thương tổ chức, ông Bùi Quang Cường - Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) cho rằng khoảng cách về kỹ năng số đang trở thành một trong những điểm nghẽn đáng chú ý khi thương mại điện tử bước vào giai đoạn phát triển ngày càng chuyên nghiệp và cạnh tranh hơn.

Ông Bùi Quang Cường nói về điểm nghẽn trong kinh doanh trực tuyến sàn TMĐT

Thực tế ấy được minh chứng rõ nét qua câu chuyện tại Hợp tác xã (HTX) Lộc Thúy Quỳnh Farm. Bên cạnh những vướng mắc về nhân lực và quản trị sản xuất ban đầu, thử thách lớn nhất đối với đơn vị chính là quá trình tiếp cận và vận hành thương mại điện tử. Theo bà Trần Thị Thúy - Giám đốc HTX, với quy mô 20 hộ thành viên mà phần lớn là người có tuổi, khả năng sử dụng điện thoại thông minh còn hạn chế, dù đơn vị đã nỗ lực bắt nhịp bằng các thao tác cơ bản như quay video hay đăng tải sản phẩm, việc kinh doanh trực tuyến không đơn thuần dừng lại ở bề nổi đó. Do thiếu hụt kỹ năng chuyên sâu và chưa nắm bắt tường tận các tiêu chuẩn, quy định riêng của từng nền tảng số, những nỗ lực số hóa ban đầu của HTX vẫn chật vật và chưa thể chuyển hóa thành doanh thu bền vững.

Khẳng định thêm về mức độ khắt khe của thị trường, ông Bùi Quang Cường cho rằng kinh doanh trực tuyến hiện đại đòi hỏi sự chuyên nghiệp toàn diện. Một sản phẩm chất lượng chưa đủ để thành công nếu thiếu đi sự đầu tư đồng bộ về bao bì, nhãn mác, câu chuyện thương hiệu, chiến lược tiếp cận khách hàng cũng như năng lực vận hành các khâu định giá, logistics, thanh toán và chăm sóc khách hàng.

“Muốn thành công trên thương mại điện tử, không phải đơn thuần chỉ là có một sản phẩm tốt, mà chúng ta phải biết cách tận dụng cả một hệ sinh thái và biết cách vận hành thì mới có thể đưa sản phẩm ra thị trường tốt hơn.”

Từ thực tế đó, đại diện Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam nhấn mạnh: để tháo gỡ triệt để điểm nghẽn kỹ năng số, không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực đơn lẻ của người dân hay hợp tác xã. Vấn đề đặt ra đòi hỏi phải có sự chung tay kiến tạo từ hệ thống chính sách, trong đó sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương đóng vai trò hạt nhân để xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, tổ chức đào tạo bài bản và mở rộng đường băng cho nông sản vùng cao vươn xa.

THU HẸP KHOẢNG CÁCH KỸ NĂNG SỐ: TỪ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG ĐẾN HỆ SINH THÁI VẬN HÀNH

Để giải phóng áp lực cho người nông dân và hợp tác xã trước rào cản kỹ năng số, giải pháp cốt lõi không phải là đặt mọi gánh nặng công nghệ lên vai họ. Kế thừa mô hình liên kết "04 nhà" (Nhà nước - Nhà nông - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) do Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hình từ thực tiễn phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, các chuyên gia kinh tế và hiệp hội ngành hàng cho rằng cần thiết phải nâng cấp thành hệ sinh thái phân công lao động số trong thương mại điện tử.

4 nhà

 

Thứ nhất, người dân giữ vai trò chủ thể sản xuất: Là những người nắm giữ tri thức bản địa và trực tiếp canh tác, người nông dân tập trung toàn bộ tâm sức vào việc bảo đảm chất lượng nguyên liệu, quy trình canh tác sạch, an toàn và bền vững. Họ không phải chịu áp lực bứt phá công nghệ hay tự mình giải quyết các bài toán vận hành phức tạp trên không gian mạng.

Thứ hai, hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác đóng vai trò là "điểm tựa quy tụ": HTX đứng ra làm đầu mối tập hợp các hộ sản xuất nhỏ lẻ, chuẩn hóa quy trình thu gom, kiểm soát chất lượng đồng đều, điều phối sản lượng và xây dựng thương hiệu tập thể để đủ năng lực đáp ứng các đơn hàng lớn, dài hạn.

Thứ ba, lực lượng chuyên môn dịch vụ và hạ tầng số (doanh nghiệp công nghệ, nền tảng, logistics): Đây là "cánh tay nối dài" giải quyết điểm nghẽn kỹ năng số. Nhân sự trẻ tại địa phương hoặc các đối tác chuyên nghiệp sẽ gánh vác khâu sáng tạo nội dung, thiết kế hình ảnh, vận hành gian hàng, chạy quảng cáo và tối ưu hóa hiển thị. Song song đó, các đơn vị logistics và hệ thống thanh toán trung gian đảm bảo dòng chảy hàng hóa và dòng tiền được lưu thông thông suốt, an toàn.

Thứ tư, cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội kiến tạo hành lang pháp lý và định hướng chiến lược: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định rõ người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể của quá trình chuyển đổi số, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể hóa tinh thần đó, Luật TMĐT số 122/2025/QH15 và Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030 (Quyết định số 1568/QĐ-BCT) đã thiết lập hành lang pháp lý vững chắc, định hướng phát triển TMĐT theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững và đặt mục tiêu thu hẹp khoảng cách vùng miền rõ rệt.

Biến chủ trương thành hành động, Cục TMĐT (Bộ Công Thương) đã triển khai hàng loạt chương trình trọng điểm hỗ trợ các hợp tác xã (HTX) và hộ kinh doanh địa phương.

Song hành cùng đó, VECOM liên tục tổ chức các diễn đàn khoa học chuyên sâu và hiến kế 3 giải pháp trọng tâm: Phát triển hạ tầng và tối ưu hóa logistics nhằm bảo đảm huyết mạch giao thương thông suốt; chuyển dịch từ phổ cập công cụ sang huấn luyện năng lực vận hành thực chiến về tối ưu gian hàng, quảng cáo và dữ liệu cho lao động địa phương; và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ bao trùm với sự chung tay của các doanh nghiệp công nghệ nhằm chia sẻ gánh nặng vận hành với các chủ thể sản xuất quy mô nhỏ.

Phan cong lao dong so

 

Thực tiễn từ các mô hình điểm sáng như HTX Tri thức - Bản địa Goong hay HTX Nông - Lâm - Thủy sản Phong Niên (Lào Cai) đã chứng minh sức sống của mô hình này: khi người trẻ phụ trách livestream, xây dựng kênh và vận hành số, còn nông dân tập trung làm dược liệu và nông sản sạch dưới sự định hướng của chính quyền và hiệp hội, các sản phẩm hoàn toàn có thể chinh phục hàng chục nghìn người theo dõi và tiêu thụ thành công hàng chục tấn nông sản.

Khi các mắt xích trong hệ sinh thái trên liên kết chặt chẽ thì công nghệ không còn là trở ngại mà sẽ là bệ phóng đưa đặc sản vùng cao vươn xa hơn trên dòng chảy kinh tế số hiện đại.

BƯỚC RA BIỂN LỚN: TỪ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NỘI ĐỊA ĐẾN HỆ SINH THÁI XUYÊN BIÊN GIỚI

Khi hệ sinh thái số nội địa vận hành trơn tru, thương mại điện tử xuyên biên giới tự nhiên trở thành nấc thang phát triển tiếp theo để nông sản vùng cao mở rộng không gian thị trường. Tuy nhiên, hành trình bước ra thế giới đòi hỏi năng lực tuân thủ tuyệt đối từ tiêu chuẩn hữu cơ, an toàn thực phẩm, mã vạch truy xuất nguồn gốc đến khả năng đáp ứng đơn hàng lớn với tiến độ ngặt nghèo.

Thực tiễn thời gian qua đã chứng minh rõ quy luật này qua những mô hình tiên phong. Câu chuyện của Hợp tác xã Chế biến chè Phìn Hồ (Hà Giang) là một điển hình sắc nét về bài toán nâng cấp chuỗi giá trị; từ 30 ha nguyên liệu ban đầu, đơn vị này đã liên kết hàng trăm hộ dân tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn hữu cơ châu Âu và đầu tư dây chuyền hiện đại để xuất khẩu thành công hàng chục tấn chè khô sang Đài Loan, Trung Quốc, Nga và Đức.

HTX chè Phìn Hồ

Tương tự, tại Hợp tác xã Nông Lâm nghiệp Vạn An (Lào Cai), việc chủ động ổn định vùng nguyên liệu ở mức 10 – 12 tấn trà viên mỗi tháng đã tạo bệ phóng vững chắc để chinh phục thị trường Hoa Kỳ với khoảng 100.000 gói trà xuất khẩu mỗi năm.

Ở tầm vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước cũng đang đẩy mạnh xúc tiến thương mại số, điển hình là hoạt động kết nối sản phẩm vùng Trung du và miền núi phía Bắc thông qua gian hàng quốc gia trên các nền tảng lớn như Alibaba.com.

Dẫu vậy, số lượng hợp tác xã tự tin bước ra thế giới hiện vẫn còn khiêm tốn, tái khẳng định thực tế rằng công nghệ chỉ mở ra cánh cửa ban đầu, còn năng lực trụ vững phụ thuộc hoàn toàn vào tiêu chuẩn chất lượng và hệ sinh thái hậu cần phía sau.

Hành trình số hóa nông sản không biến nông dân thành chuyên gia công nghệ, mà đặt họ làm chủ thể sản xuất trong hệ sinh thái phân công lao động đồng bộ. Công nghệ chỉ xóa nhòa khoảng cách địa lý, còn động lực cốt lõi nằm ở sự liên kết đa tầng giữa chính sách, hiệp hội và dịch vụ hậu cần chuyên nghiệp. Thu hẹp khoảng cách số, vì thế, vượt lên trên ý nghĩa hạ tầng kỹ thuật để trở thành chiến lược phát triển bao trùm mang tầm quốc gia, bảo đảm không một bản làng nào bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên kinh tế số.

Bài: THÚY MÙI
Thiết kế: THÚY MÙI

Đồ họa sử dụng Open AI