Bắc Ninh triển khai nhiều giải pháp phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trong giai đoạn 2026 - 2035, tỉnh Bắc Ninh đang triển khai nhiều giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), tập trung vào hạ tầng, sinh kế, tín dụng chính sách, chuyển đổi số và bảo tồn văn hóa.
Bắc Ninh
Bắc Ninh triển khai nhiều giải pháp phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Ảnh: Sở Dân tộc và tôn giáo tỉnh Bắc Ninh)

Dù đã đạt một số kết quả tích cực trong giảm nghèo và cải thiện đời sống người dân, khu vực dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Ninh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn về hạ tầng, sinh kế và khoảng cách phát triển so với các địa bàn khác trong tỉnh.

Khoảng cách phát triển vẫn còn lớn

Theo đánh giá của Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh, những năm gần đây, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết các dân tộc tiếp tục được củng cố; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS được đầu tư nâng cấp; lĩnh vực y tế, giáo dục được quan tâm; văn hóa truyền thống của các dân tộc được bảo tồn và phát huy.

Kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 đã góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân. Tỷ lệ hộ nghèo người DTTS giảm bình quân 2,42%/năm, từ 11,93% năm 2021 xuống còn 4,65% năm 2024. Tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 4,21%/năm, từ 21,9% xuống còn 9,25%.

Nguồn vốn tín dụng chính sách tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ sinh kế cho người dân. Theo thống kê, hơn 75.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác đã được vay vốn với tổng số tiền giải ngân trên 4.020 tỷ đồng để phát triển sản xuất và ổn định đời sống.

Nguồn vốn này góp phần giúp trên 30.000 hộ thoát nghèo; tạo việc làm cho gần 20.000 lao động, trong đó có hơn 300 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; hỗ trợ hơn 3.000 học sinh, sinh viên vay vốn học tập; xây dựng, sửa chữa hơn 90 công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn và xây mới hơn 1.000 căn nhà cho hộ nghèo.

Trong lĩnh vực hạ tầng xã hội, đến nay 99,5% thôn, bản thuộc các xã vùng đồng bào DTTS&MN đã có nhà văn hóa; tỷ lệ nhà văn hóa đạt chuẩn đạt 70,6%.

Bên cạnh đó, chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát theo Nghị quyết 307-NQ/TU ngày 6/12/2023 cũng đã hoàn thành toàn bộ 798 căn nhà cho các hộ có nhu cầu hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở.

Tuy nhiên, theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh, vùng đồng bào DTTS&MN vẫn thuộc nhóm địa bàn còn nhiều khó khăn của tỉnh. Dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm, nhưng mức nghèo trong đồng bào DTTS vẫn cao hơn mặt bằng chung. Năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo người DTTS là 4,65%, cao gấp gần 2,7 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của tỉnh; tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ này là 9,25%, cao hơn 5,3 lần tỷ lệ hộ nghèo của cả tỉnh (1,73%).

Nhiều xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa còn khó khăn trong tiếp cận kết cấu hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản và cơ hội sinh kế. Hạ tầng giao thông, thủy lợi, hạ tầng công nghệ thông tin và chuyển đổi số ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Cơ cấu dân số nông thôn cũng đang thay đổi theo hướng thiếu lao động trẻ khi nhiều người di cư đến đô thị và khu công nghiệp làm việc, trong khi tỷ lệ người cao tuổi gia tăng. Điều này tạo áp lực đối với phát triển cộng đồng và hệ thống an sinh xã hội tại địa phương.

Ngoài ra, khu vực DTTS&MN còn chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, ngập lụt, hạn hán, gây tác động đến hạ tầng và sản xuất. Một bộ phận người dân còn thiếu đất sản xuất, ruộng đất manh mún, trình độ dân trí không đồng đều, khả năng tiếp cận khoa học công nghệ còn hạn chế.

Cùng với khó khăn về kinh tế và hạ tầng, công tác bảo tồn văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS cũng đặt ra nhiều thách thức. Một số phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, ngôn ngữ và chữ viết có nguy cơ mai một; việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng còn hạn chế.

Nhiều nguyên nhân tác động đến phát triển vùng DTTS&MN

Theo đánh giá của cơ quan chức năng, một trong những nguyên nhân chính khiến khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào DTTS&MN và các khu vực khác còn lớn là điều kiện tự nhiên và hạ tầng chưa đồng bộ.

Nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận giao thông, hạ tầng thủy lợi, viễn thông và các dịch vụ xã hội cơ bản. Một số nơi còn tồn tại “vùng lõm” sóng di động và Internet, ảnh hưởng đến tiếp cận thông tin, chuyển đổi số và phát triển kinh tế.

Quá trình chuyển dịch lao động cũng tạo ra những tác động đáng kể đối với khu vực nông thôn và miền núi. Lao động trẻ có xu hướng rời địa phương để làm việc tại các đô thị và khu công nghiệp, trong khi lực lượng lao động tại chỗ chủ yếu là người trung niên và cao tuổi, ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất và tiếp cận khoa học công nghệ.

Bên cạnh đó, quy mô sản xuất của nhiều hộ dân còn nhỏ lẻ, manh mún; khả năng liên kết theo chuỗi giá trị chưa cao. Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm và thương mại điện tử vẫn còn hạn chế.

Một số khó khăn cũng đến từ tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu. Tình trạng ngập lụt, hạn hán và thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống người dân và chất lượng hạ tầng.

Trong lĩnh vực văn hóa, một số nét văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, trong khi quá trình đô thị hóa ngày một phát triển.

Tập trung nguồn lực cho sinh kế, chuyển đổi số và bảo tồn văn hóa

Để triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035, tỉnh Bắc Ninh đã thông qua HĐND tỉnh về Nghị quyết quy định nguyên tắc, tiêu chi, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình; tỉnh sẽ ưu tiên bố trí đủ vốn đối ứng theo quy định của trung ương để tổ chức, triển khai thực hiện đem lại hiệu quả cao. 

Sau khi có Nghị định 272/2025/NĐ-CP, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 530/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào DTTS&MN, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào DTTS&MN và xã khu vực I, II, III trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030.

Đồng thời, đơn vị cũng tham mưu xây dựng Chương trình số 22-CTr/TU ngày 28/3/2026 về phát triển vùng đồng bào DTTS&MN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030 và Kế hoạch số 212/KH-UBND ngày 09/6/2026 của UBND tỉnh Thực hiện Chương trình số 22.

Theo định hướng của tỉnh, việc huy động và lồng ghép nguồn lực sẽ tiếp tục được ưu tiên nhằm bảo đảm nguồn vốn thực hiện chương trình. Ngoài ngân sách Trung ương, tỉnh dự kiến huy động vốn tín dụng chính sách xã hội, vốn ủy thác địa phương, nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

Bắc Ninh cũng đặt mục tiêu tiếp tục hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát; hỗ trợ tạo việc làm, giáo dục nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động cho lao động vùng đồng bào DTTS&MN.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, tỉnh định hướng ưu tiên đầu tư hạ tầng viễn thông, xóa “vùng lõm” sóng di động, phủ Internet cáp quang tại các xã, thôn vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là địa bàn đặc biệt khó khăn.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi và đánh giá chương trình cũng được triển khai nhằm bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả thực hiện.

Tỉnh đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, phát triển sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ đồng bào tiếp cận thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt.

Cùng với phát triển kinh tế, Bắc Ninh tiếp tục triển khai các chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 75/2025/NQ-HĐND ngày 12/11/2025 của HĐND tỉnh Quy định một số chính sách hỗ trợ, bảo tồn, phát huy tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2025-2030 và các đề án, kế hoạch liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa, tiếng dân tộc thiểu số, tổ chức ngày hội văn hóa các dân tộc và phát triển du lịch cộng đồng.

Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho hộ gia đình, cá nhân là người DTTS đầu tư homestay, phát triển dịch vụ du lịch; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia liên kết phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh cũng kiến nghị Trung ương sớm thích hợp các Chương trình MTQG, hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng đơn giản, phù hợp với cơ sở; tăng cường phân cấp, phân quyền và hướng dẫn bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc, tôn giáo tại các xã vùng DTTS&MN.

Trong bối cảnh Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới được triển khai theo hướng tích hợp giữa giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào DTTS&MN, Bắc Ninh đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực và triển khai các giải pháp về sinh kế, hạ tầng, chuyển đổi số và bảo tồn văn hóa nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Minh Huế