Tóm tắt:
Nghiên cứu này nhằm phân tích tiềm năng, hạn chế và định hướng phát triển bền vững du lịch ban đêm tại TP. Hồ Chí Minh dựa trên phương pháp tiếp cận hỗn hợp khảo sát 300 du khách với phỏng vấn sâu 15 chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, văn hóa và kinh doanh. Kết quả cho thấy, TP. Hồ Chí Minh có lợi thế nổi bật về đời sống đô thị năng động, đa dạng ẩm thực và văn hóa đêm, nhưng còn hạn chế về quản lý, quy hoạch không gian đêm và tính đặc trưng của sản phẩm. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm, bao gồm: (1) Quy hoạch và quản trị không gian đêm; (2) Phát triển sản phẩm du lịch đêm đặc trưng; (3) Tăng cường an ninh, hạ tầng và công nghệ; (4) Xây dựng thương hiệu “Saigon by Night” như một biểu tượng của đô thị năng động châu Á.
Từ khóa: du lịch ban đêm, kinh tế đêm, Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển bền vững.
1. Đặt vấn đề
Theo Roberts và Eldridge (2009), du lịch ban đêm là tập hợp các hoạt động tham quan, giải trí, ẩm thực và mua sắm diễn ra trong khung giờ từ 18 giờ tối đến 6 giờ sáng, nhằm mở rộng thời gian tiêu dùng và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội cho điểm đến.
Còn Maitland (2019) cho thấy, hoạt động du lịch ban đêm gắn liền với đặc trưng văn hóa và nhịp sống đô thị, đóng vai trò quan trọng trong hình thành bản sắc du lịch của một thành phố. Ở Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2022) định nghĩa kinh tế du lịch ban đêm là “một bộ phận cấu thành của nền kinh tế đô thị, bao gồm các hoạt động dịch vụ du lịch, văn hóa, nghệ thuật và giải trí diễn ra ngoài khung giờ hành chính”.
Du lịch đêm đang trở thành xu hướng phát triển mới, đặc biệt ở những thành phố lớn, được nhiều quốc gia định hướng như một công cụ để phát triển kinh tế dịch vụ. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2023), “doanh thu từ các hoạt động du lịch diễn ra sau 18 giờ có thể chiếm từ 25 - 35% tổng doanh thu du lịch của một thành phố lớn”. TP. Hồ Chí Minh sau khi sáp nhập với Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương đã trở thành một đô thị có quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các địa phương khác, đặc biệt là về ngành Du lịch. Với định hướng trở thành trung tâm du lịch hàng đầu Châu Á trong tương lai gần, TP. Hồ Chí Minh được xem là điểm đến có nhiều điều kiện thuận lợi cho loại hình du lịch đêm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các hoạt động du lịch về đêm tại đây vẫn chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung ở một vài khu vực như phố Bùi Viện, phố đi bộ Nguyễn Huệ, chợ đêm Bến Thành, Hồ Thị Kỷ, Tân Định, Bà Chiểu, khu phố ẩm thực Nguyễn Thượng Hiền, Phan Xích Long, Vĩnh Khánh, Hà Tôn Quyền… chưa hình thành sản phẩm đặc trưng mang tính chiến lược để phát triển toàn diện.
Trong bối cảnh Chính phủ ban hành Đề án phát triển kinh tế đêm Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2022), việc nghiên cứu chuyên sâu về du lịch ban đêm tại TP. Hồ Chí Minh là cần thiết, nhằm đánh giá đúng thực trạng, xác định tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển phù hợp.
Bài nghiên cứu nhằm làm rõ 3 mục tiêu:
(1) Hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh.
(2) Phân tích những rào cản và thách thức trong quá trình triển khai.
(3) Đề xuất định hướng phát triển bền vững và mô hình quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hồ Chí Minh.
2. Tổng quan kết quả nghiên cứu của đề tài
2.1. Thực trạng, kết quả nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu chính thức nào xác định được quy mô cũng như những tác động của “kinh tế ban đêm” đến hoạt động kinh tế nói chung và ngành Du lịch nói riêng. Phần lớn sản phẩm du lịch hiện nay chủ yếu là tập trung từ 7 giờ sáng đến 18 giờ chiều, hay còn gọi là sản phẩm cứng. Tuy nhiên, sản phẩm có thể mang lại nguồn thu lớn là khoảng thời gian sau 18h đến sáng hôm sau thì đến nay vẫn chưa được đầu tư phát triển mạnh. Theo khảo sát của các chuyên gia nước ngoài, doanh thu sản phẩm dịch vụ du lịch ban ngày chỉ chiếm 30%, trong khi 70% còn lại nằm ở khung giờ đêm. Khi mặt trời lặn ở các thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, cũng là lúc các phố đi bộ rực sáng ánh đèn, tiếng nhạc, du khách có thể đến các khu chợ đêm mua sắm và khám phá ẩm thực; đến các phố đi bộ, du khách có thể hòa mình vào văn hóa bản địa, xem một chương trình biểu diễn nghệ thuật ngoài trời hoặc trong các nhà hát, tận hưởng hương vị đêm trên những con phố. Những hoạt động này được xem là ví dụ điển hình thể hiện rõ nhất mô hình hoạt động của kinh tế ban đêm - nơi những hoạt động kinh doanh chỉ thực sự bùng nổ sau khi mặt trời lặn (Trần Trung Hiếu, 2022).
Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn với phát triển dịch vụ du lịch về đêm đáng kể có công trình của Đăng Khôi (2019) đã thống kê sự phát triển kinh tế đêm ở các thành phố lớn tại các nước phát triển như New York (Mỹ), Sydney (Australia), hay London (Anh) qua những con số cụ thể. Từ những con số này cho thấy, tại Việt Nam có rất nhiều thành phố du lịch vẫn đang chưa khai thác hết tiềm năng.
Tác giả Lưu Thanh Tâm (2020) cũng đề cập sản phẩm, dịch vụ về đêm của Việt Nam hiện còn ít. Ngay ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, vào ban đêm, việc đưa du khách đi xem các chương trình văn hóa nghệ thuật cũng khó. Chương trình biểu diễn rối nước hay chương trình ca múa tại Nhà hát thành phố cũng chỉ hoạt động 2 ngày trong tuần. Ngành Du lịch cần có những sản phẩm, dịch vụ đặc sắc để thu hút du khách. Có 2 vấn đề ngành Du lịch Việt Nam cần làm để phát triển kinh tế ban đêm. Thứ nhất là, cân nhắc kỹ nhu cầu của khách du lịch, không áp đặt tư duy của nhà quản lý vào hoạt động kinh tế. Thứ hai là, cần triển khai thí điểm, có thể tại những thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, trước khi triển khai rộng rãi. Để phát triển kinh tế ban đêm cần có quy hoạch cụ thể, ban đầu nên chỉ cho những nhà đầu tư lớn, dịch vụ chất lượng cao hoạt động, không nên phát triển đại trà rộng khắp trong khi chưa có biện pháp quản lý hiệu quả từ phía chính quyền thành phố và cơ quan quản lý du lịch.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Minh Phong (2019), “Kinh tế ban đêm - “Cửa sáng cho ngành Du lịch” cho thấy, đây là các hoạt động kinh doanh dịch vụ từ 18h đến 6h sáng hôm sau, bao gồm ẩm thực, nghệ thuật, âm nhạc, các chương trình giải trí, lễ hội, sự kiện, cho tới các điểm du lịch chỉ mở cửa vào ban đêm… Tác giả đưa ra những số liệu ở những thành phố lớn, như: Bắc Kinh (Trung Quốc), New York (Mỹ), Tokyo (Nhật Bản), hay tại các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), hầu hết các thành phố lớn đều có nền “kinh tế ban đêm” phát triển, đặc biệt là những thành phố được du khách tìm tới nhiều nhất, như: Paris, Lyon, London, Manchester, Belfort, Amsterdam, Berlin, Madrid, Barcelona, Roma, Vénice, Geneva, Zurich… Chính phủ các nước thành viên EU phân quyền và khuyến khích chính quyền các thành phố thực hiện các chương trình, dự án khai thác tiềm năng kinh tế đêm, gắn với đặc trưng và thế mạnh văn hóa, nghệ thuật, thể thao, ẩm thực của riêng mình (London có Dự án “Sa hoàng đêm - London’s night Czar”; Amsterdam có Dự án “Thị trường đêm - The Night Mayor’).
Liên hệ tại Việt Nam, tác giả nhận thấy, nước ta có những thuận lợi để phát triển “kinh tế ban đêm”, như có nhiều tài nguyên du lịch và đang ngày càng trở thành điểm đến ưa thích của nhiều du khách quốc tế; Việt Nam còn có nhiều tiềm năng văn hóa nghệ thuật và ẩm thực đặc sắc; có lượng dân số trẻ và sống tập trung tại các thành phố có mức độ hội nhập và toàn cầu hóa cao; Thời tiết ban đêm tương đối dễ chịu. Phát triển kinh tế đêm ở Việt Nam là tất yếu vì phù hợp với xu hướng quốc tế và để níu chân khách du lịch. Ngoài việc xây dựng các khu chợ đêm hoặc phố ăn đêm, một số chuỗi cửa hàng tiện lợi mở cửa 24/24, những tuyến phố mang nét đặc trưng như: Tạ Hiện (Hà Nội) hay Bùi Viện (TP. Hồ Chí Minh)…, thì kinh tế ban đêm ở Việt Nam cần sự đầu tư bài bản và chính sách đồng bộ hơn, bao gồm các khu vực riêng, được quy hoạch dài hạn và phát triển hạ tầng điện, nước và có kết nối giao thông công cộng, hệ thống quy định pháp lý và mạng lưới quản lý dịch vụ an ninh, an toàn; các sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng và tiện ích cao từ nhiều ngành ẩm thực, nghệ thuật và giải trí đạt các yêu cầu cao về chất lượng…
Theo Trần Thị Nguyệt Cầm và cộng sự (2022), thực trạng hiện tại bên cạnh những thuận lợi còn gặp một số khó khăn cần giải quyết khi các thành phố lớn ở Việt Nam phát triển kinh tế ban đêm: sự phát triển của kinh tế ban đêm vô tình có thể trở thành môi trường thuận lợi làm gia tăng các loại tội phạm và kéo theo những tệ nạn xã hội gây khó khăn cho các nhà quản lý xã hội. Chẳng hạn, lượng tiêu thụ đồ uống chứa cồn có xu hướng gia tăng khi phát triển kinh tế ban đêm. Các vụ vi phạm về an toàn giao thông và gây rối trật tự công cộng cũng có nguy cơ diễn ra như một hệ lụy của việc lạm dụng các loại đồ uống có cồn. Những hiện tượng này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, gây phức tạp về tình hình an ninh trật tự và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Không chỉ vậy, hoạt động kinh tế ban đêm phát triển còn tạo ra vấn nạn ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, rác thải; rủi ro phòng cháy chữa cháy, tình trạng chiếm dụng trái phép không gian công cộng phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó còn là áp lực về cung cấp hệ thống hạ tầng thiết yếu, như: xử lý chất thải, cung cấp điện, nước,… giám sát các vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, giá cả hàng hóa,...
Tác giả Vũ Đức Thanh (2006) giới thiệu các hoạt động nhộn nhịp tại khu phố Tây - thành phố Hồ Chí Minh - trong thời gian từ nửa đêm về sáng và cho thấy tiềm năng của hoạt động du lịch về đêm là rất lớn, cần có chính sách, phương hướng cụ thể để vừa bảo tồn, khai thác và phát triển du lịch về đêm tại khu phố Tây nói riêng và của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Xuân Trường (2021) chỉ ra những thực trạng và 4 đặc điểm kinh tế ban đêm: Một là, kinh tế ban đêm phát triển ở các thành phố lớn, các trung tâm du lịch; Hai là, hoạt động kinh tế ban đêm diễn ra trong quãng thời gian nghỉ ngơi của phần lớn người dân; Ba là, hoạt động kinh tế ban đêm gắn với việc sử dụng ánh sáng nhân tạo trong đêm; Bốn là, hoạt động kinh tế ban đêm gắn với một số vấn đề về an ninh trật tự, an toàn xã hội cần giải quyết, như: ma túy, mại dâm, trộm cắp… Từ thực trạng của kinh tế ban đêm ở Việt Nam hiện nay và mục tiêu phát triển của kinh tế ban đêm đã đặt ra cho quản lý về thuế những khó khăn, thách thức và tác giả cũng đã đưa ra 3 quan điểm về quản lý thuế 2 giải pháp để giải quyết những khó khăn đó một cách tương đối.
2.2. Thực trạng, kết quả nghiên cứu tại nước ngoài
Tạp chí Phuket Guide (2004), giới thiệu những hoạt động ngoài vui chơi - giải trí về đêm tại Phuket - Thái Lan. Để thu hút du khách, chính quyền địa phương đã đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch, nâng cao các cơ sở vật chất để phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí, ăn uống, lưu trú… về đêm của du khách.
Theo công trình nghiên cứu của M. Roberts (2005), tại Anh hoạt động du lịch đêm đã được khai thác từ những năm 1990. Xuất phát chủ yếu từ những quán rượu nhỏ và từ nhu cầu của khách du lịch cũng như của người dân nên hoạt động ban đêm đã được chính quyền địa phương mở rộng các loại hình dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương. Qua nghiên cứu này cho thấy, phát triển kinh tế ban đêm là cần thiết đối với các thành phố lớn, đặc biệt là những thành phố trung tâm du lịch như ở Thành phố Hồ Chí Minh (Maitland, R. 2019).
Theo tác giả Melisa Wickham (2012), cần có những biện pháp quản lý hiệu quả những tác hại tiêu cực liên quan đến đồ uống có cồn gây ra những hệ lụy khác. Bài nghiên cứu này cũng là một gợi mở cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch và khách du lịch cần xây dựng một bộ tiêu chí rõ ràng khi sử dụng đồ uống có cồn trong việc phát triển du lịch đêm một cách hợp lý.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai theo quy trình gồm 4 bước: thu thập tài liệu, khảo sát thực địa, phỏng vấn chuyên gia và phân tích - đối chiếu dữ liệu. Quy trình này nhằm bảo đảm độ tin cậy cho việc đánh giá tiềm năng, rào cản và định hướng phát triển du lịch ban đêm tại TP. Hồ Chí Minh.
3.1. Thu thập và xử lý tài liệu
Tài liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ: (1) báo cáo của Sở Du lịch và các cơ quan quản lý TP. Hồ Chí Minh; (2) Đề án phát triển kinh tế đêm Việt Nam; (3) thống kê du lịch giai đoạn 2010-2024; (4) các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về kinh tế đêm, quản trị không gian đêm và mô hình phát triển sản phẩm du lịch đêm.
Tài liệu sau đó được phân loại theo nhóm (tiềm năng - rào cản - mô hình quản lý - kinh nghiệm quốc tế) để làm cơ sở kiểm chứng dữ liệu thu được từ thực địa và phỏng vấn.
3.2. Khảo sát thực địa
Khảo sát được thực hiện tại các địa điểm đại diện cho hoạt động ban đêm của TP. Hồ Chí Minh gồm: phố Bùi Viện, phố đi bộ Nguyễn Huệ, chợ đêm Bến Thành và bến Bạch Đằng. Nội dung khảo sát bao gồm: mật độ hoạt động, loại hình sản phẩm, mức độ thu hút du khách, môi trường - an ninh, hạ tầng hỗ trợ, mức độ đặc trưng của sản phẩm.
Dữ liệu được ghi nhận bằng quan sát trực tiếp và bảng ghi chép theo biểu mẫu thống nhất nhằm tạo tính nhất quán cho toàn bộ quá trình.
3.3. Phỏng vấn chuyên gia
Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, văn hóa và quản lý đô thị nhằm xác định rào cản, đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm và đề xuất hướng phát triển. Thông tin phỏng vấn được mã hóa và phân tích theo chủ đề, từ đó bổ sung và kiểm chứng kết quả khảo sát thực địa.
3.4. Phân tích và đối chiếu dữ liệu
Dữ liệu được tổng hợp và phân tích theo 3 nhóm nội dung chính: tiềm năng - hạn chế - định hướng.
Kết quả khảo sát thực địa và ý kiến chuyên gia được đối chiếu với tài liệu thứ cấp để kiểm tra độ chính xác, bảo đảm các kết luận trong các mục 4.1 đến 4.5 có cơ sở từ nhiều nguồn độc lập.
Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng so sánh đối chiếu với mô hình quốc tế (Bangkok, Singapore, Seoul) để củng cố lập luận về tính khả thi của các định hướng đề xuất.
3.5. Phương pháp dự báo
Dữ liệu du lịch TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2024 được dùng để xây dựng dự báo xu hướng nhu cầu tham gia hoạt động đêm giai đoạn 2025 - 2040. Kết quả dự báo được dùng làm cơ sở khoa học cho các định hướng và giải pháp đề xuất ở phần thảo luận.
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Thực trạng hoạt động du lịch ban đêm tại TP. Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát thực địa cho thấy, hoạt động du lịch ban đêm của TP. Hồ Chí Minh được hình thành chủ yếu tại các khu vực tập trung khách du lịch như phố đi bộ Nguyễn Huệ, phố Bùi Viện, chợ đêm Bến Thành, bến Bạch Đằng và các không gian ẩm thực ven sông. Các loại hình hoạt động phổ biến gồm phố đi bộ, biểu diễn nghệ thuật đường phố, khu ẩm thực, hoạt động giải trí - giải trí cao tầng, dịch vụ du thuyền và các điểm vui chơi về đêm (Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh, 2024).
Dữ liệu khảo sát du khách cho thấy, 82% người được hỏi đánh giá TP. Hồ Chí Minh có không khí đêm “năng động”, phản ánh sức hút của đời sống đô thị. Tuy nhiên, 38% cho thấy, sản phẩm đêm chưa đa dạng và 64% nhận định hoạt động quảng bá - cung cấp thông tin còn hạn chế. Điều này cho thấy hệ sinh thái du lịch đêm vẫn chưa được định hình một cách đầy đủ và đồng bộ.
4.2. Tiềm năng phát triển
Kết quả tổng hợp dữ liệu và quan sát thực địa cho thấy, TP. Hồ Chí Minh sở hữu nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch ban đêm. Bản sắc văn hóa đô thị hình thành từ sự giao thoa giữa văn hóa Việt - Hoa - Âu tạo nên môi trường trải nghiệm phong phú (Nguyễn Thị Hường, 2021; Nguyễn Quốc Thắng, 2021). Hệ thống hạ tầng giao thông - thương mại được đầu tư hiện đại, đặc biệt là trục không gian ven sông và khu trung tâm, hỗ trợ mạnh cho các hoạt động về đêm. Nguồn nhân lực trẻ và môi trường đô thị mở cũng góp phần tạo nên sức sống của không gian đêm (Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh, 2016).
Theo Nguyễn Văn Đính (2023), nếu mở rộng thời gian hoạt động dịch vụ đến 2 giờ sáng, TP. Hồ Chí Minh có thể gia tăng doanh thu du lịch từ 20% đến 30%, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm mới. Những yếu tố này cho thấy tiềm năng tăng trưởng đáng kể nếu thành phố xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm đêm phù hợp.
4.3. Hạn chế và thách thức
Mặc dù có nhiều lợi thế, hoạt động du lịch ban đêm của TP. Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Khảo sát thực địa cho thấy, không gian hoạt động đêm còn phân tán, thiếu quy hoạch tổng thể và thiếu liên kết giữa các khu vực. Chính sách quản lý giờ hoạt động chưa linh hoạt, gây khó khăn cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đêm (Nguyễn Quốc Thắng, 2021).
Một số khu vực xuất hiện vấn đề liên quan đến an ninh, tiếng ồn, vệ sinh môi trường và trật tự đô thị. Sản phẩm văn hóa đặc trưng Nam Bộ như biểu diễn dân gian, nhạc, múa truyền thống, ẩm thực bản địa chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng (Trần Trung Hiếu, 2022). Công tác truyền thông còn manh mún, chưa có định vị thương hiệu chung cho du lịch đêm của thành phố.
4.4. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm của các đô thị như Bangkok, Seoul và Singapore cho thấy, phát triển kinh tế đêm thành công đòi hỏi quy hoạch rõ ràng, quản trị an ninh - trật tự hiệu quả và chiến lược truyền thông sáng tạo. Bangkok thiết lập các “Nightlife Zones” với cơ chế quản lý riêng, Singapore xây dựng lễ hội “Marina Bay Night Festival” thu hút đông đảo du khách, trong khi Seoul phát triển các tour đêm gắn với công nghệ ánh sáng và văn hóa đương đại (Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh, 2011a).
Những kinh nghiệm này gợi mở cho TP. Hồ Chí Minh theo 3 hướng: quy hoạch các vùng không gian đêm chuyên biệt; phát triển sản phẩm - sự kiện đêm mang bản sắc địa phương; tăng cường liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng để bảo đảm môi trường hoạt động an toàn, hấp dẫn.
4.5. Định hướng phát triển
Kết quả phân tích 3 nhóm dữ liệu tài liệu thứ cấp, khảo sát thực địa và phỏng vấn chuyên gia cho thấy, TP. Hồ Chí Minh cần ưu tiên hoàn thiện quy hoạch không gian đêm theo trục “Bùi Viện - Nguyễn Huệ - Bến Bạch Đằng”, tạo thành vùng hoạt động đêm liên thông. Sản phẩm đặc trưng cần được định hình rõ hơn, bao gồm nhiều khu phố ẩm thực đêm Nam Bộ, tour du thuyền sông Sài Gòn và chương trình nghệ thuật ánh sáng hằng đêm.
Đầu tư cơ sở hạ tầng hỗ trợ như chiếu sáng nghệ thuật, thanh toán số, bản đồ số du lịch đêm là rất cần thiết để nâng cao trải nghiệm, tăng cường an ninh song song việc xây dựng thương hiệu “Saigon by Night” sẽ giúp định vị TP. Hồ Chí Minh như một đô thị đêm năng động và an toàn trong khu vực.
5. Kết luận và kiến nghị
5.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, du lịch ban đêm tại TP. Hồ Chí Minh sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, bao gồm bản sắc văn hóa đa dạng, hạ tầng đô thị hiện đại và nhu cầu trải nghiệm đêm ngày càng tăng của du khách. Tuy nhiên, hoạt động hiện nay vẫn phân tán, thiếu tính kết nối và chưa hình thành sản phẩm đặc trưng, trong khi các rào cản về quy hoạch, quản lý giờ hoạt động, an ninh - môi trường và truyền thông vẫn tồn tại.
Việc đánh giá đồng thời tiềm năng, hạn chế và định hướng phát triển thông qua tổng hợp tài liệu, khảo sát thực địa và phỏng vấn chuyên gia cho thấy TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng chiến lược phát triển du lịch đêm theo hướng đồng bộ, có quy hoạch không gian rõ ràng và tăng cường sản phẩm mang tính bản sắc. Những kết quả này góp phần cung cấp cơ sở khoa học phục vụ việc hoạch định chính sách và phát triển du lịch đêm của Thành phố trong giai đoạn tiếp theo.
5.2. Kiến nghị
Dựa trên các kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ quá trình triển khai du lịch đêm tại TP. Hồ Chí Minh:
Đối với chính quyền thành phố: xây dựng khung pháp lý chuyên biệt cho hoạt động du lịch đêm, điều chỉnh linh hoạt giờ hoạt động tại các khu vực trọng điểm và hoàn thiện quy hoạch không gian đêm.
Đối với ngành Du lịch: phát triển các sản phẩm đêm mang bản sắc Nam Bộ, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường liên kết giữa các đơn vị cung ứng.
Đối với doanh nghiệp: đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đầu tư dịch vụ có chất lượng cao và bảo đảm an toàn - văn minh trong quá trình phục vụ du khách.
Đối với cộng đồng dân cư: tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ, góp phần xây dựng môi trường du lịch thân thiện và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023). Đề án một số mô hình phát triển sản phẩm du lịch đêm. Truy cập tại https://bvhttdl.gov.vn/ban-hanh-de-an-mot-so-mo-hinh-phat-trien-san-pham-du-lich-dem-20230718154442861.htm.
Đăng Khôi (2019). Kinh tế ban đêm - Những con số hấp dẫn và thách thức chờ đợi. Truy cập tại https://baodautu.vn/kinh-te-ban-dem---nhung-con-so-hap-dan-va-thach-thuc-cho-doi-d106874.html.
Lê Xuân Trường (2021). Quản lý thuế đối với hoạt động kinh tế ban đêm: Những khó khăn và giải pháp khắc phục. Tạp chí Tài chính tháng 3/2021, Tập 1, số 748.
Lưu Thanh Tâm (2020). Phát triển kinh tế ban đêm tại các thành phố của Việt Nam. Truy cập tại https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-kinh-te-ban-dem-tai-cac-thanh-pho-cua-viet-nam-68978.htm
Nguyễn Minh Phong (2019). Kinh tế ban đêm - Cửa sáng cho ngành du lịch. Truy cập tại https://nhandan.vn/kinh-te-ban-dem-cua-sang-cho-nganh-du-lich-post376571.html.
Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh. (2024). Chiến lược phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh (2010). Công bố “Thành phố Hồ Chí Minh - 100 điều thú vị” lần 1 năm 2010, TP. Hồ Chí Minh.
Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh (2011a). Tổng hợp số liệu kiểm kê di tích trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh (2016). Danh sách các công trình, địa điểm đã được quyết định xếp hạng di tích trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (đến tháng 6/2016).
Trần Thị Nguyệt Cầm và cộng sự (2022). Thực trạng phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam. Tạp chí Công Thương, số 01 tháng 01/2022.
Trần Trung Hiếu (2022). Văn hóa và nghệ thuật trong du lịch đêm đô thị Việt Nam. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2.
Vũ Đức Thanh (2006). Phố Tây - nửa đêm về sáng. Tạp chí Du lịch TP. Hồ Chí Minh, số 4.
M. Roberts (2005). Transformations in the night-time economy in English town center: challenges to managerment. Sustainable Development and Planning II, 21567.
Maitland R. (2019). Tourism after Dark: Night-time Economies and Urban Change. Routledge.
Raj R., & Griffin K. (2020). Sustainable Tourism and Night-time Economy. Channel View Publications.
Melisa Wickham (2012). Alcolo consumption in the night-time economy. Greater London Authority. ISBN 978-1-84781-521-7.
Phuket Guide (2004). Into the night, pp.36 - 37.
Roberts M., & Eldridge A. (2009). Planning the Night-time City. Routledge.
UNWTO (2004). Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinations: A Guidebook, Mandrid, Spain.
UNWTO (2008). International Recommendations for Tourism Statistics 2008 (IRTS 2008), Madrid, New York.
UNWTO (2009). Global Code of Ethics for Tourism, Mandrid, Spain.
UNWTO (2023). Global Report on Night-time Tourism and Urban Destinations. Madrid: World Tourism Organization.
Night-time Tourism (Noctourism) in Ho Chi Minh City: Potentials, barriers and development orientations
Bui Phi Tien1
Nguyen Van Tam1
1Saigontourist Travel
Abstract:
This study examines the potential, constraints, and sustainable development orientation of night tourism in Ho Chi Minh City using a mixed-methods approach, combining a survey of 300 tourists with in-depth interviews involving 15 experts in tourism, culture, and business. The findings indicate that the city possesses significant advantages derived from its vibrant urban lifestyle, diverse nighttime cuisine, and rich cultural activities. However, notable limitations persist, particularly in the management and planning of nighttime spaces, product differentiation, and the coherence of the overall nighttime tourism ecosystem. The analysis highlights four strategic dimensions shaping the development of night tourism, including spatial planning and governance, the distinctiveness of nighttime tourism products, the role of security, infrastructure, and technology, and the emergence of “Saigon by Night” as a symbolic representation of a dynamic Asian metropolis. These insights contribute to a more comprehensive understanding of night tourism development in major urban destinations.
Keywords: night-time tourism, night-time economy, Ho Chi Minh City, sustainable development.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 1/2026]
